Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NÔNG NGHIỆP 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NÔNG NGHIỆP 1. Nghiên cứu về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp C.Ăngghen (1995), Toàn tập, nghiên cứu về KTTN trong NN, tuy chưa đưa ra khái niệm về KTTN, nhưng đã nhìn nhận KTTN trong NN dưới hình thức cụ thể là kinh tế hộ gia đình, kinh tế tiểu nông dựa trên sở hữu tư nhân và lao động của bản thân. Trong tác phẩm Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức [2, tr.Ăngghen hộ gia đình hoạt động hiệu quả, có sức sống bền vững nên sự tồn tại của nó là khách quan.
Tiểu nông là người sở hữu nhỏ hoặc đi thuê một mảnh ruộng đất không lớn hơn số ruộng đất mà họ thường có thể cày cấy cùng với gia đình họ. Họ là người lao động, họ khác người vô sản hiện đại ở chỗ anh ta còn sở hữu tư liệu lao động. Cùng với lao động trong gia đình và bằng những nguyên liệu tự sản xuất ra, anh ta đã sản xuất được phần lớn nhất trong số những sản phẩm NN cần dùng. Trong quá trình chuyển từ chế độ nông nô sang nền sản xuất lớn Tư bản chủ nghĩa ở Châu Âu, số phận người nông dân, chủ yếu là tiểu nông sẽ bị phá sản và bần cùng.
Đó là một quy luật, nó diễn ra rất mau chóng và không ai ngăn cản được. Từ thực tế đó, Ph.Ăngghen đưa ra khuyến cáo với những người cộng sản về lập trường của họ đối với tiểu nông khi đã có chính quyền là: Phải hướng quyền sở hữu cá thể và nền kinh doanh cá thể của họ vào con đường kinh doanh hợp tác, bằng những biện pháp dứt khoát không phải bằng bạo lực mà là bằng những tấm gương và sự giúp đỡ của xã hội.Lênin (1978), Toàn tập để phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại không chỉ dựa vào nông dân sản xuất nhỏ, vì vậy, cần làm cho người nông dân hiểu rằng “không thể làm ăn theo lối cũ”, lối sản xuất nhỏ tự cung tự cấp mà “phải tiến hành những công tác mới mẻ trên quy mô rộng lớn” [47, tr.62], để đưa NN và kinh tế nông thôn trở thành một luan an 8 ngành, một khu vực sản xuất hàng hóa lớn, để bộ mặt nông thôn thay đổi theo hướng tiến bộ, không còn tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và những hủ tục chi phối đời sống tinh thần người dân. Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định vai trò quan trọng của KTTN trong NN với hình thức cụ thể là kinh tế hộ. Và bằng tư duy nhạy bén, các ông đều thấy được xu hướng vận động của KTTN trong NN trong nền sản xuất xã hội mà đến trăm năm sau, với chúng ta nó vẫn còn là bài học giá trị.
Hongliang Zheng và Yang Yang (2012), trong tác phẩm Chinese private sector development in the past 30 years: retrospect and prospect (Sự phát triển của khu vực tư nhân Trung Quốc trong 30 năm qua: nhìn lại và triển vọng) [100], đã phân tích sự khác biệt của KTTN thời cải cách, mở cửa so với giai đoạn trước đó ở Trung Quốc. Khẳng định sự tồn tại và phát triển của KTTN hiện nay là hợp pháp, là sự bổ sung cần thiết cho nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc. Vì nó có ví trí quan trọng, có lợi cho việc thúc đẩy sản xuất, kích thích thị trường cạnh tranh, tăng việc làm và đáp ứng các nhu cầu cần thiết khác nhau trong đời sống xã hội. Erich Sahan & Monique Mikhail (2012), trong ấn phẩm Private Investment in Agriculture (KTTN đầu tư vào NN) [96], đã luận giải vì sao KTTN cần đầu tư vào lĩnh vực NN? Một mặt, do nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng tăng, do sức ép của sự gia tăng dân số, do diện tích đất có hạn, NN là ngành luôn chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nên đây là ngành luôn nhận được sự quan tâm của các chính phủ.
Các đơn vị kinh tế tư nhân hầu hết là các DN nhỏ và vừa, vì vậy nên tập trung đầu tư vào cây lương thực, hướng đến thị trường trong nước và thị trường khu vực. Mặt khác, tác giả cho rằng đầu tư vào NN là hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng nông sản sau thu hoạch, góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng toàn diện của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững về môi trường. Dù không thể thay thế được khu vực nhà nước nhưng nếu thiếu việc đầu tư của khu vực tư nhân cũng gây ra những báo động trong sản xuất NN. luan an 9 Madhvi Sally (2017), trong bài How private sector is helping cultivators with technology, buyback and improving their social standards (Khu vực tư nhân đang giúp người trồng trọt với công nghệ, mua lại và cải thiện các tiêu chuẩn xã hội của họ như thế nào?) [109].
Tác giả khẳng định: Cùng với việc phát triển các sản phẩm NN, tất yếu có sự phát triển các dịch vụ do khu vực tư nhân đảm nhiệm. KTTN ngày càng có vai trò quan trọng trong tiêu thụ nông sản. Nó không chỉ là một lực lượng tham gia phát triển thị trường trong nước mà còn là bộ phận quan trọng tham gia thị trường xuất khẩu hàng nông sản. Ở Ấn Độ, có khoảng 80% sản phẩm NN được thúc đẩy bởi các công ty tư nhân với sự tham gia của 138 triệu gia đình nông dân.
Tư nhân là một lực lượng tích cực tham gia vào thị trường nông sản xuất khẩu. Nhờ đó, phạm vi và cơ hội nắm bắt thị trường nước ngoài được mở rộng và cho phép các nhà sản xuất kiếm được giá và thu nhập cao hơn cho hàng nông sản. Marco Ferroni, Yuan Zhou (2017), trong bài The Private Sector and India's Agricultural Transformation (Khu vực tư nhân và chuyển đổi nông nghiệp của Ấn Độ) [107, tr. Các tác giả khẳng định: Những tăng trưởng và chuyển đổi NN thành công là không thể tưởng tượng được nếu không có một khu vực tư nhân năng động phục vụ và thúc đẩy chuỗi giá trị nông sản.
Khu vực tư nhân đóng vai trò quyết định trong chuyển đổi nền NN của Ấn Độ ngày nay, thúc đẩy cải thiện năng suất và tạo ra việc làm và nâng cao giá trị trong chuỗi cung ứng từ nông trại đến bàn ăn. Các nghiên cứu trên đã đánh giá cao vai trò của KTTN trong NN, khẳng định rằng sự phát triển của khu vực này với tính năng động của nó có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Vai trò của KTTN không chỉ đối với an ninh lương thực quốc gia mà còn thấy được vai trò của KTTN trong thúc đẩy NN hàng hóa phát triển. Nghiên cứu về xu hướng và kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân trong nông nghiệp Về xu hướng phát triển KTTN trong NN, có công trình của: Hongliang Zheng và Yang Yang (2009), trong ấn phẩm Chinese private sector development luan an 10 in the past 30 years: retrospect and prospect (Sự phát triển của khu vực tư nhân Trung Quốc trong 30 năm qua: nhìn lại và triển vọng) [100], dự báo về xu hướng phát triển khu vực KTTN ở Trung Quốc trên các khía cạnh: mức tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) của khu vực kinh tế này; xu hướng đa dạng hóa trong cấu trúc DN, hợp lý hóa trong cấu trúc quản trị, tối ưu hóa công nghệ được lựa chọn; và xu hướng các DN tư nhân tăng cường tham gia vào các trách nhiệm xã hội, đóng vai trò tích cực hơn vào xây dựng quỹ phúc lợi xã hội, xây dựng xã hội hài hòa dưới sự dẫn dắt của nhà nước.
Về kinh nghiệm phát triển KTTN trong NN, có nghiên cứu của Ministry of Agriculture in Kenya (2013), Private sector development in agriculture (Phát triển KTTN trong NN) [106] ở Kenya. Tác giả đã phân tích để vượt qua những hạn chế về điều kiện tự nhiên, trình độ thấp kém của nông dân và nạn tham nhũng của quan chức nhà nước, Bộ NN Kenya đã thực thi một dự án dưới sự ủy quyền của bộ Liên bang Đức về hợp tác và phát triển kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất NN gắn sản xuất với hoạt động của các DN chế biến thực phẩm ở nước này nhằm khai thác hết thị trường tiềm năng, quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững. Các nghiên cứu liên quan đến thực trạng và giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân trong nông nghiệp Johanna Nesseth Tuttle (2012), nghiên cứu Private-Sector Engagement in Food Security and Agricultural Development (Sự tham gia của KTTN trong an ninh lương thực và phát triển NN) [101], tác giả đã phân tích thực trạng và giải pháp phát triển KTTN trong mối quan hệ với những thách thức về an ninh lương thực toàn cầu. Từ đó, cho rằng các thách thức đó có thể được giải quyết thông qua việc khơi dậy tiềm năng của KTTN trong NN bằng các cam kết hỗ trợ của chính phủ và tài trợ của các cơ quan, tổ chức phát triển quốc tế trong tất cả các khâu sản xuất, sau thu hoạch, phân loại nông sản, tiếp thị, đóng gói.
Từ đó khẳng định việc thúc đẩy phát triển các hình thức KTTN trở thành tập đoàn kinh tế lớn (như Monsanto, Syngenta, DuPot, PepsiCo, Walmart) là cần thiết để thúc đẩy sản xuất NN của nông dân các nước trên thế giới. luan an 11 USAID (2012), tại Hội thảo Attracting Private Sector Investment to Rural and Agricultural Markets (Thu hút KTTN đầu tư vào NN và nông thôn) [111], tổ chức ngày 25/9/2012 ở Washington DC với sự tham dự của 270 thành viên là những doanh nhân đến từ 41 quốc gia trên thế giới, trong đó bao gồm các công ty đa quốc gia, các nhà đầu tư, nhà tài trợ, các viện nghiên cứu NN, các nhà hoạch định chính sách và cả những doanh nghiệp hàng đầu thế giới như Unilever, Cheraon Wallmart. Trong đó, hầu hết các thành viên đều nhất trí việc đề xuất phát triển các hiệp định đối tác công tư để thúc đẩy quan hệ hợp tác sáng tạo giữa khu vực KTTN với các tổ chức để khuyến khích và thu hút đầu tư của khu vực KTTN vào NN, góp phần xóa đói giảm nghèo. Dan Acquaye and Frimpong - Manso (2012), trong ấn phẩm The roles and opportunities for the Private sector in Africa’s agro-food industry (Vai trò và cơ hội của KTTN trong ngành chế biến nông sản của Châu Phi) [95].