CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CÔNG TY MUA BÁN NỢ 1.1 Những vấn đề lý luận chung về công ty mua bán nợ: 1.2 Kinh nghiệm quốc tế về công ty mua bán nợ 1.3 Đặc điểm từ các mô hình tổ chức và hoạt động của các công ty mua bán nợ tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia Đặc điểm chung của các công ty mua bán nợ tại 3 nước Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia là được Chính phủ tài trợ vốn và tổ chức tập trung. Điều này có lẽ là do tính chất đặc thù có hệ thống về các vấn đề ngân hàng và quy mô nợ xấu. Trong trường hợp của 2 quốc gia (Malaysia và Hàn Quốc) bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 và Trung Quốc là do cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi hoạt động của các NHTM Nhà nước lớn chỉ như những cơ quan hành chính Nhà nước, có nhiệm vụ cho vay theo chỉ định cho các công ty và dự án Nhà nước vốn làm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ làm nợ xấu của các nước này tăng cao. Chính phủ các nước này đã áp dụng hình thức mua sỉ tất cả các khoản nợ xấu và cơ cấu lại các khoản nợ xấu của ngân hàng.
Mô hình AMC tập trung mang tính khả thi cao do nhiều ngân hàng không đủ nguồn lực để tự tái cấu trúc các khoản nợ xấu khổng lồ của mình thông qua các đơn vị trực thuộc hay các công ty con của ngân hàng. Hơn nữa, cơ sở pháp lý so với các chuẩn mực thế giới vẫn còn nghèo nàn trong các quốc gia này cũng góp phần tạo ra sự cần thiết phải có AMC tập trung. Các công ty xử lý nợ tập trung cũng có các quyền hạn đặc biệt để cắt giảm các thủ tục pháp lý (ngoại trừ các công ty mua bán nợ tại Trung Quốc). Ví dụ, trường hợp của DANAHARTA – có quyền xử lý tất cả các khoản nợ xấu chuyển giao mà không cần phải xin phép các chủ tài sản.
KAMCO được trang bị một đạo luật riêng được nghị viện Hàn Quốc thông qua và được chính phủ Hàn Quốc ban hành nhiều đạo luật khác nhau để tạo môi trường pháp lý thuận tiện cho hoạt động của KAMCO. Chính phủ Hàn Quốc cho phép KAMCO có quyền tịch thu tài sản và bán đấu giá các tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ tồn đọng. Các công ty mua bán nợ tại Trung Quốc thì không có thể hiện rõ đặc quyền của mình, có thể một iv phần là do cơ sở pháp lý của Trung Quốc hoàn thiện hơn cơ sở pháp lý của các nước còn lại. Liên quan đến việc mua khoản nợ xấu để xử lý, Các AMC ở mỗi nước lại có cách thức riêng của mình.
KAMCO không có các tiêu chí đặc thù đối với tài sản được mua lại nhưng nó sẽ mua lại các tài sản ở mức giá chiết khấu cao (Tháng 11/2003, mức giá chiết khấu bình quân của KAMCO khoảng 64%). Ngược lại, DANAHARTA hạn chế mua lại các khoản nợ xấu có giá trị ghi sổ tối thiểu là 5 triệu Ringgit Malaysia .Hơn nữa, DANAHARTA định giá nợ xấu theo giá thị trường nhưng sẽ thương lượng phần lãi hoặc lỗ với các định chế tài chính. Đối với DANAHARTA, giá trị thu hồi vượt mức trên chi phí mua lại cộng với chi phí phân bổ trực tiếp sẽ được chia theo tỷ lệ 80:20, trong đó, 80% thuộc về các định chế tài chính. Trong trường hợp thua lỗ thì cả Ngân hàng và DANAHARTA đều phải gánh chịu nhưng ngân hàng phải chịu 30% của mức giá chuyển nhượng.
Đối với các AMC tại Trung Quốc, ban đầu mỗi AMC chủ yếu thực hiện mua các khoản nợ xấu của ngân hàng trực tiếp được phân công xử lý nợ xấu, sau này các AMC đánh giá và thực hiện mua và xử lý nợ xấu của các ngân hàng khác ngoài 4 ngân hàng quốc doanh lớn. Cuối cùng, các AMC của 3 nước này cũng có các chiến lược xử lý nợ riêng của mình. KAMCO đã nhờ sự giúp đở của các chuyên gia nước ngoài trong việc quản lý tài sản và xử lý nợ thông qua các công ty liên doanh. DANAHARTA đã sử dụng các đối tác đặc biệt hoặc các nhà quản trị có chuyên môn để quản lý các loại tài sản đặc thù, thực hiện theo chiến lược của Securum – một công ty xử lý nợ của Thụy Điển trong đầu những thập niên 1990.
Quá trình xử lý nợ xấu ở Trung Quốc gắn trực tiếp với các biện pháp cải cách được thực hiện bởi Chính phủ nhằm chuyển đổi nền kinh tế Trung Quốc từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường cũng như quá trình tái cấu trúc các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và hệ thống tài chính. Do vậy các AMC tại Trung Quốc với mục đích giảm thiểu nợ xấu đồng thời tái cấu trúc các doanh nghiệp Nhà Nước đã sử dụng phương pháp xử lý nợ là chuyển nợ xấu thành cổ phần. v CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY MUA BÁN NỢ TẠI VIỆT NAM 2. Thực trạng nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam 2.
Mô hình tổ chức và hoạt động của công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) Hiện tại hoạt động mua nợ xấu của VAMC đa phần bằng cách mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt và tiền mặt. Trái phiếu mà VAMC phát hành cho doanh nghiệp để “hoán đổi” nợ xấu theo đúng giá trị còn lại của khoản nợ (nợ gốc trừ khoản tiền đã được tổ chức tín dụng trích lập cho khoản nợ đó). Tuy nhiên, đúng như tên gọi của nó, trái phiếu đặc biệt ở chỗ lãi suất 0% và hàng năm ngân hàng vẫn phải trích lập 20% mệnh giá trái phiếu cho dự phòng rủi ro. Ngoài ra, khi hết hạn hoặc đã trích lập dự phòng đủ số nợ xấu và nếu nợ xấu chưa được VAMC xử lý thì tổ chức tín dụng phải mua lại nợ xấu từ VAMC bằng chính trái phiếu mà VAMC phát hành.
Lợi ích mà tổ chức tín dụng nhận được là đem trái phiếu đặc biệt này đến NHNN chiết khấu để mượn tiền. Như vậy, rõ ràng sự hấp dẫn của trái phiếu đặc biệt là không nhiều. Việc xử lý nợ xấu của VAMC bản chất vẫn là NHNN bơm tiền vào tổ chức tín dụng có nợ xấu cao để lấp lỗ hổng khi bị xử lý. Đối với tổ chức có nợ xấu thấp hoặc có thể che dấu nợ xấu thì họ sẽ không bán nợ cho VAMC.
Việc VAMC không dùng đến “tiền thật” để xử lý nợ xấu là một đặc thù ở Việt Nam. Chính thức bắt đầu mua nợ xấu từ 1/10/2013, đến 15/11/2013, VAMC đã mua trên 16.000 tỷ đồng dư nợ gốc và vẫn tích cực triển khai mua nợ để đạt kế hoạch 35. Sau khi mua, VAMC đang thực hiện tổng hợp, phân loại và xây dựng danh mục các khoản nợ để có thể chào bán ra thị trường trong nước và quốc tế trong thời gian tới. Tuy nhiên, việc xử lý, mua bán nợ xấu thời điểm này không thể nhanh, đơn giản, do vướng mắc ở nhiều khâu.
Một trong những khâu vướng mắc nhất hiện nay của VAMC, đó là rào cản về pháp lý trong việc mua - bán nợ xấu. Đặc biệt là vấn đề liên quan tài sản thế chấp là bất động sản. Mô hình tổ chức và hoạt động của Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) Sau 9 năm đi vào hoạt động, mặc dù Công ty Mua, bán nợ gặt hái được nhiều thành công, hoành thành khá tốt nhiệm vụ được giao: Lũy kế từ năm 2004 đến năm 2012, DATC đã thực hiện 128 phương án mua bán nợ theo theo hình thức thỏa thuận và chỉ định để xử lý tài chính tái cơ cấu doanh nghiệp và thu hồi nợ. Giá trị sổ sách của các khoản nợ là 8.579,6 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi đạt 106,5 % so với giá vốn mua nợ.
Tuy nhiên, công ty vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc còn tồn tại. Thứ nhất, mặc dù DATC luôn đạt hoàn thành mục tiêu doanh thu hàng năm vượt kế hoạch, nhưng nhìn chung, từ năm 2004 đến nay, kết quả mua nợ hàng năm còn thấp, chỉ đạt trên 30% so với kế hoạch đề ra. Thứ hai, trong hoạt động xử lý nợ theo phương án góp vốn cổ phần để tái cơ cấu doanh nghiệp, một số doanh nghiệp khách nợ chưa đạt được mục tiêu doanh thu. Nhiều doanh nghiệp từ năm 2007 đến nay vẫn chưa thu hồi được hết số thu từ nợ tồn đọng gây thất thoát cho công ty.
Thứ ba, mặc dù đã thực hiện thành công tái cơ cấu cho nhiều doanh nghiệp nhưng một số phương án được thực hiện vẫn còn rất chậm, gây ra tốn chi phí, thời gian và công sức của đội ngũ nhân viên công ty. Thứ tư, mục tiêu của việc hình thành Công ty Mua, bán nợ Việt Nam là tiếp cận các khoản nợ tồn động để xử lý, nhưng việc tiếp cận với một số khoản nợ tồn đọng vẫn có một số hạn chế do phía khách nợ chưa thực sự tin tưởng để tích cực đàm phán bán nợ tồn đọng Thứ năm, hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua việc mua, bán nợ tồn đọng thường là phải xử lý các vấn đề còn tồn tại ở phía khách nợ là doanh nghiệp về việc giảm trừ một số khoản nợ tồn đọng, xử lý các điều kiện để doanh nghiệp đủ điều kiện chuyển đổi, tái cơ cấu diễn ra khá chậm. Thứ sáu, trong hoạt động mua nợ để thu nợ, việc xử lý thu nợ tồn đọng tại một số doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, số tiền còn phải thu tính cả gốc lẫn lãi vẫn ở mức cao, thường cuối năm, Công ty Mua, bán nợ Việt Nam vẫn còn khoản thu hồi các khoản nợ chiếm tỉ lệ rất cao, có năm tỷ lệ này lên đến 50%. vii CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CÔNG TY MUA BÁN NỢ TRÊN THẾ GIỚI VÀ GỢI Ý VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM 3.1 Các bài học Việt Nam có thể vận dụng từ mô hình tổ chức và hoạt động của các công ty mua bán nợ trên thế giới Bài học thứ nhất có thể vận dụng vào Việt Nam là việc lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp cho công ty mua bán nợ quốc gia tại Việt Nam dựa vào kinh nghiệm quốc tế của các nước trên thế giới.