CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG “CHO VAY NGANG HÀNG” 1. Khái niệm Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm trong cho vay P2P. Đầu tiên, theo Miriam Segal (2015), cho vay P2P là một phương thức huy động vốn qua internet và mô hình này là sự kết hợp giữa gây quỹ cộng đồng và cho vay qua internet. Tiếp đó, theo một khái niệm khác, cho vay P2P là sự kết nối giữa người đi vay và người cho vay thông qua các nền tảng trực tuyến và người điều hành các nền tảng đó.
Các doanh nghiệp này đóng vai trò trung gian cho người cho vay, với tư cách đại lý và thu hồi nợ. Hay trong những năm gần đây, thì cho vay P2P, còn được gọi là cho vay trên thị trường hoặc cho vay trên nền tảng trực tuyến, là ngành cho vay phi ngân hàng sử dụng các công nghệ tài chính tiên tiến để cho người tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ vay. Tóm lại, có thể hiểu P2P Lending là mô hình kết nối trực tuyến giữa bên cho vay và bên đi vay, được xây dựng không qua bất kỳ trung gian tài chính nào mà dựa trên công nghệ blockchain. Cụ thể, công ty cho vay P2P của những nhà điều hành sẽ cung cấp cho bên cho vay và bên đi vay một nền tảng giao dịch trực tuyến, để họ có thể kết nối trực tiếp với nhau và thực hiện hoạt động vay mượn.
Tất cả quá trình vay mượn này sẽ được nền tảng giao dịch này ghi nhận lại và lưu trữ bằng các bảng điện tử, số hóa4. Cơ chế hoạt động của mô hình P2P Lending bao gồm bên cho vay, nền tảng cho vay trực tuyến và bên vay. Ở đây có thể thấy nếu ngân hàng thương mại lấy chênh lệch lãi suất làm lợi nhuận thì các công ty cung cấp P2P lại lấy lợi nhuận từ việc thu phí quản lý thông qua xếp hạng tín dụng, đánh giá và quản lý rủi ro dựa vào các dữ liệu đầu vào, từ đó tác động trực tiếp đến quyết định của các bên trong giao dịch cho vay ngang hàng này. Mô hình này có ba chủ thể, bao gồm: bên cho vay, nền tảng cung cấp dịch vụ và bên đi vay.
Bên đi vay (Borrower): Trong giao dịch cho vay ngang hàng bên đi vay thường các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng vốn, nhưng không có khả năng tiếp cận vốn hoặc hạn chế trong việc đáp ứng các điều kiện để được cho vay từ các tổ chức tín dụng. Điển hình là các doanh nghiệp SME, họ rất khó khăn trong việc chứng minh năng lực tài chính cũng như đưa ra các biện pháp bảo đảm cho khoản vay. Một đối tượng nữa 4 Hà Văn Dương (2019), “Cho vay ngang hàng: Cơ chế vận hành và mô hình kinh doanh”, Tạp chí Tài chính tiền tệ, (08), [https://thitruongtaichinhtiente.vn/cho-vay-ngang-hang-co-che-van-hanh-va-mo-hinh-kinh-doanh-23265. 13 mà thị trường cho vay ngang hàng muốn hướng đến là nhóm khách hàng cá nhân, đối với nhóm này nhu cầu sử dụng vốn thường là chi cho tiêu dùng cá nhân hoặc mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho gia đình.
Bên cung cấp dịch vụ P2P Lending: Các doanh nghiệp có chức năng cung cấp giải pháp công nghệ và tư vấn đầu tư, hỗ trợ tài chính là các bên cung cấp dịch vụ P2P Lending. Hiện nay, tại Việt Nam các đơn vị cung cấp nền tảng cho vay P2P đều là các doanh nghiệp đăng ký ngành nghề kinh doanh tư vấn quản lý như Công ty Cổ phần Đổi mới công nghệ tài chính Fiin, Công ty Cổ phần Lenbiz. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cho vay ngang hàng không đầu tư bất kỳ nguồn vốn nào của họ cho các khoản vay trên nền tảng P2P, dòng tiền chỉ luân chuyển giữa Bên cho vay và Bên đi vay. Doanh nghiệp này cũng chỉ là trung gian kết nối giữa người đi vay và cho vay nên họ không nhất thiết phải có tài sản đảm bảo bù đắp rủi ro, do vậy họ không chịu trách nhiệm rủi ro tín dụng mà chỉ ảnh hưởng bởi xếp hạng đánh giá tín nhiệm từ khách hàng vay cũng như bên cho vay.
Lợi nhuận thu được từ hình thức kinh doanh này chính là khoản phí giao dịch mà các bên phải trả cho nhà cung cấp khi thực hiện giao dịch hoàn tất trên nền tảng này. Căn cứ vào định nghĩa của Morphy, hiện có 2 mô hinh P2P Lending phổ biến trên thế giới: Mô hình chủ động: P2P truyền thống trong đó các nền tảng đóng vai trò kết nối, việc thực hiện giao dịch do hai bên quyết định. Nhà cung cấp chỉ là trung gian: Vận hành quản lý hệ thống và đánh giá rủi ro. Các nhà đầu tư xem xét thông tin liên quan đến độ tin cậy của người đi vay như thu nhập hàng năm, mục đích vay vốn và đặc điểm nhân thân… Mô hình thụ động: Các nhà đầu tư sẽ lựa chọn loại rủi ro, thời gian đáo hạn, hệ thống sẽ đánh giá rủi ro, đánh giá các tiêu chí này để ghép nối với danh sách người đi vay phù hợp.
Ở mô hình này, nhà đầu tư chỉ tiếp cận thông tin ở mức cơ bản, vì vậy, tính rủi ro cao hơn, nên thông thường khi chọn loại hình này các nhà đầu tư sẽ xây dựng một quỹ dự phòng cho mình5. Đặc điểm Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã và đang ngày càng làm cho lĩnh vực công nghệ tài chính phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển 5 Đặng Văn Dân (2019), “Cách thức vận hành, điều tiết thị trường cho vay ngang hàng trên thế giới, đề xuất cho Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng, (04), tr. 14 đó, hoạt động cho vay ngang hàng P2P cũng được biết đến hơn.
Với những ưu điểm của hoạt động này mang lại cho những người tham gia sử dụng nên quy mô của các nhà đầu tư, số lượng tổ chức và số tiền được vay thông qua các nền tảng P2P, lĩnh vực cho vay P2P đạt những con số khủng đặc biệt ở Trung Quốc con số này lớn hơn nhiều so với các nước khác trên thế giới. Cụ thể là tính đến tháng 1 năm 2017, có tổng cộng hai nghìn ba trăm tám mươi tám (2388) nền tảng P2P ở Trung Quốc; khối lượng giao dịch năm 2015 đạt 67 tỷ USD, lớn hơn khoảng 4 lần so với Hoa Kỳ và 10 lần so với Vương quốc Anh6. Hoạt động cho vay P2P không sử dụng các tổ chức tài chính truyền thống làm trung gian tín dụng giữa bên cho vay và bên đi vay và thường không cần sự chấp thuận của các cơ quan quản lý tài chính. Hoạt động cho vay ngang hàng tồn tại dựa vào bên trung gian là bên cung cấp nền tảng P2P - hay còn gọi là các công ty tín dụng P2P khác hoàn toàn so với các tổ chức tín dụng truyền thống.
Và cũng chính tại nền tảng của bên cung cấp trung gian này là nơi cả bên vay và bên cho vay đều có thể đăng ký và huy động các nguồn tài chính. Giá trị xã hội mà hoạt động này mang lại chủ yếu nằm ở chỗ hoạt đồng cho vay này đáp ứng được nhu cầu tài chính của các cá nhân, tổ chức, hỗ trợ phát triển hệ thống tín dụng cá nhân và giúp huy động các quỹ nhàn rỗi từ xã hội. Cho vay vi mô P2P lần đầu tiên được tạo ra vào năm 2006 bởi Muhammad Yunus, người đoạt giải Nobel Hòa bình, người đã thành lập Ngân hàng Grameen vào năm 1983, một tổ chức tài chính vi mô và ngân hàng phát triển cộng đồng ở Bangladesh7. Vì thế hoạt động cho vay ngang hàng P2P thu hút được nhiều đối tượng tham gia.
Theo nghiên cứu của Lerong Lu đã chỉ ra một số đặc điểm nổi nổi bật của cho vay ngang hàng như sau8: i) Tính linh hoạt hiệu quả cao nhưng mức lãi suất không nhỏ: Không thể phủ nhận được một lợi thế rõ ràng của hoạt động cho vay ngang hàng mang lại cho tất cả đối tượng tham gia vào nó bao gồm cả bên cho vay, bên đi vay và bên cung cấp nền tảng. Sở dĩ được cho là linh hoạt là vì các bên có thể tự do thương lượng, lựa chọn tất cả các khoản vay, mức vay, thông tin cá nhân,. mà mình hướng tới để từ đó đi đến thỏa thuận tất cả các điều khoản và điều kiện để xác lập giao dịch với nhau. Đây là một 6 Robin Hui Huang (2021), Fintech Regulation in China: Principles, Policies and Practices, Cambridge University Press, tr.
7 Shen Wei (2016), “Designing Optimal Regulation for Financial Innovation in Capital Raising - Regulatory Options for China's Peer-to-Peer Lending Sector”, Banking & Finance Law Review, 31(3), tr. 8 Lerong Lu (2019), Private Lending in China: practice, law, and regulation of shadow banking and alternative finance, Routledge, tr. 15 trong những điểm mạnh của hoạt động cho vay ngang hàng P2P so với các hoạt động cung cấp vốn khác trên thị trường. Cụ thể hoạt động cho vay của ngân hàng, các ngân hàng sử dụng các hợp đồng theo mẫu tiêu chuẩn cũng như là các điều kiện nghiêm ngặt về khả năng trả vốn, đối tượng đi vay, mức vay,.
vì vậy bên đi vay khó có thể yêu cầu các điều khoản có lợi hơn. Vì lý do đó nên cho vay ngang hàng được coi là một cách tiếp cận tài chính hiệu quả và nhanh chóng vì nó tốn ít thời gian hơn và quy trình cho vay dễ dàng hơn so ngân hàng. Theo số liệu thu thập được, bên vay các khoản vay tư nhân có thể biết được kết quả cho vay trong vòng 5 ngày và họ chỉ cần cung cấp chứng minh nhân dân, sao kê ngân hàng và bản sao giấy chứng nhận thu nhập làm tài liệu đăng ký. Bên cạnh đó mức lãi suất của cho vay ngang hàng cũng sẽ cao hơn so với hệ thống ngân hàng.
Lãi suất hàng năm của các khoản vay tư nhân thường vượt quá hai mươi phần trăm , trong khi đó thực tế ở Việt Nam tại các ngân hàng lãi suất được áp dụng từ ngày 30/03/2023 theo số liệu từ cổng thông tin điện tử Ngân hàng nhà nước Việt Nam được quy định như sau: 16 Thời hạn Lãi suất BQ liên Ngân hàng (% năm) Doanh số (Tỷ đồng) Qua đêm 0,90 206.901,0 1 Tháng 4,24 535,0 3 Tháng 7,36 2.405,0 6 Tháng 8,46 790,0 9 Tháng 9,41(*) 2,0(*) Ghi chú (*) Tham chiếu ngày 23/03/2023 Như vậy có thể thấy được lãi suất tại ngân hàng là thấp hơn nhiều so với lãi suất hàng năm của các khoản vay tư nhân. ii) Khoảng trống về mặt pháp lý: Đây là một trong những vấn đề đáng quan ngại nhất khi nói đến sự phát triển vượt bậc trong những năm gần đây của hoạt động cho vay ngang hàng.