ĐẶT VẤN ĐỀ Tai nạn thƣơng tích (TNTT) là vấn đề y tế công cộng đƣợc quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nƣớc trên thế giới. Đây là một lĩnh vực đáng lo ngại cho trẻ em từ khi một tuổi, liên tục góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong chung cho trẻ em đến tuổi trƣởng thành. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, trên toàn cầu mỗi năm có trên 5 triệu trƣờng hợp tử vong do TNTT trong đó hơn 900.000 trƣờng hợp là trẻ em và vị thành niên dƣới 18 tuổi. Trên 90% là thƣơng tích không chủ ý, 95% tử vong do thƣơng tích trẻ em thƣờng xảy ra ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình (4, 46).
Ở Việt Nam TNTT là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở cả ngƣời lớn và trẻ nhỏ. Tai nạn có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào vào nhiều hoàn cảnh khác nhau. Trong những thập kỉ gần đây, tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm giảm rõ rệt nhƣng tỷ lệ tử vong do TNTT đang tăng lên nhanh chóng và là nguyên nhân chính gây tử vong ở nhóm trẻ từ 5 đến 19 tuổi (34). Số liệu thống kê của Cục Quản lý môi trƣờng Y tế, Bộ Y tế năm 2017 cho thấy, tại Việt Nam trung bình có hơn 370.000 trẻ bị TNTT mỗi năm, trong đó nhóm tuổi từ 15-19 chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 43%, tiếp đến nhóm tuổi 5-14 chiếm 36,9%, thấp nhất là nhóm tuổi 0-4 chiếm 19,5%.
Số trẻ em tử vong do TNTT là 6.600 trƣờng hợp một năm chiếm tỷ lệ 35,5% trong tổng số trẻ tử vong trong toàn quốc do tất cả các nguyên nhân (33, 34). Theo niên giám thống kê y tế trong năm 2015, cho thấy tỷ suất tử vong do TNTT ở trẻ có tới 41/100.000 trẻ, riêng ở Đắk Lắk là 54/100. Một số nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ TNTT trẻ em xảy ra chủ yếu tại nhà là 43,3% hay báo cáo tổng quan về TNTT trẻ em tại Việt Nam cũng chỉ ra rằng: nhà ở là địa điểm xảy ra TNTT phổ biến và khu vực nông thôn thƣờng có xu hƣớng cao hơn thành thị (15, 46) Những nguy cơ gây ra tai nạn phổ biến ở trẻ: bỏng nƣớc sôi, nuốt phải dị vật, bị điện giật do cho tay vào ổ điện, ngã cầu thang, TNGT (4). Tùy từng lứa tuổi mà trẻ có thể gặp các nguyên nhân gây TNTT khác nhau.
Nghiên cứu can thiệp phòng chống TNTT TE tại Thành phố Buôn Ma Thuột cũng chỉ ra tỷ lệ các yếu tố gây TNTT trẻ em tại các hộ gia đình khá cao, gồm có 2 ngạt 68,7%; Điện giật 59,6%; Ngã 45,3%; Động vật cắn 45%; Bỏng 34,5%; Đuối nƣớc 31,1%; Ngộ độc 28,4%; Vật sắc nhọn 18,9% (15) và nghiên cứu cũng đã chỉ ra vai trò của cha mẹ và ngƣời chăm sóc trong việc phòng TNTT cho con em mình rất quan trọng, việc nâng cao kiến thức cho cha mẹ và ngƣời chăm sóc trẻ là một điều cần thiết. Để tiếp tục cung cấp các bằng chứng cho việc xây dựng chiến lƣợc và triển khai các hoạt động PCTNTT tại thành phố Buôn Ma Thuột, chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ dưới 16 tuổi của người chăm sóc chính tại TP.Buôn Ma Thuột, tỉnh , năm 2020”. Kết quả nghiên cứu sẽ có thể giúp cho các hoạt động phòng chống TNTT, đặc biệt cho các hoạt động nâng cao kiến thức và kỹ năng của cha mẹ trong việc đảm bảo an toàn cho trẻ ngày một tốt hơn. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống tai nạn thƣơng tích cho trẻ dƣới 16 tuổi của ngƣời chăm sóc chính trên địa bàn TP. Buôn Ma Thuột, năm 2020. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống tai nạn thƣơng tích cho trẻ dƣới 16 tuổi của ngƣời chăm sóc chính trên địa bàn TP. Buôn Ma Thuột, năm 2020.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm 1.1 Một số khái niệm về Tai nạn thƣơng tích Tai nạn “là một sự kiện xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn (ngẫu nhiên, không chủ ý) do một tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thƣơng, thƣơng tích cho cơ thể về thể chất hay tinh thần” (42). Tai nạn thương tích hoặc chấn thương “là tổn thƣơng thực thể trên cơ thể con ngƣời do tác động của những năng lƣợng (bao gồm: cơ học, nhiệt, điện, hoá học, phóng xạ.) với những mức độ, tốc độ khác nhau làm quá sức chịu đựng của cơ thể. Ngoài ra TNTT còn là sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống (ví dụ: thiếu oxy trong trƣờng hợp đuối nƣớc; bị bóp hoặc thắt cổ gây nên ngạt thở; cóng lạnh.)” (42) Hai thuật ngữ tai nạn thƣơng tích và chấn thƣơng thƣờng đƣợc dùng nhiều hơn vì tai nạn có ngữ nghĩa mơ hồ, ngƣời ta thƣờng nghĩ đến tai nạn nhƣ là một điều xui xẻo, vận hạn, ngẫu nhiên, không thể tiên đoán và phòng tránh đƣợc. Hai khái niệm tai nạn thƣơng tích và chấn thƣơng đều đƣợc dùng ở Việt nam, tuy nhiên trong nhiều văn bản nhà nƣớc thƣờng gọi chung là TNTT, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng cụm từ TNTT với định nghĩa nhƣ trên (42).
Các trƣờng hợp TNTT không tử vong và tử vong đƣợc ghi nhận qua phỏng vấn chủ hộ gia đình, ngƣời chăm sóc trẻ phải thỏa mãn định nghĩa sau (41): - Tai nạn thƣơng tích không tử vong: là những trƣờng hợp TNTT khiến cho nạn nhân phải cần đến sự hỗ trợ của y tế (dùng thuốc điều trị, nhập viện) hoặc mất ít nhất một ngày không thể đi (học, làm, chơi.), hoặc không thể tham gia vào các hoạt động sinh hoạt hàng ngày: vệ sinh cá nhân, mặc quần áo, quét nhà, giặt, lau dọn. - Tai nạn thƣơng tích tử vong: tử vong do TNTT trong vòng 30 ngày sau khi xảy ra TNTT.2 Khái niệm về trẻ em và ngƣời chăm sóc trẻ Theo điều 1, Luật trẻ em số 102/2016/QH13 trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi (12) 5 “Ngƣời chăm sóc trẻ em” là ngƣời đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em, bao gồm ngƣời giám hộ của trẻ em; ngƣời nhận chăm sóc thay thế hoặc ngƣời đƣợc giao trách nhiệm cùng với cha, mẹ của trẻ em cấp dƣỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em (12). “Chăm sóc thay thế” là việc tổ chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về chăm sóc, nuôi dƣỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em không đƣợc hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; trẻ em bị ảnh hƣởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em (12).3 Phân loại TNTT: Dựa vào kết quả của một hành động có chủ ý hoặc không chủ ý và các nguyên nhân gây ra, TNTT thƣờng đƣợc phân loại nhƣ sau [136]. - Tai nạn thương tích không chủ ý: xảy ra một cách vô tình, không suy nghĩ , không tính toán trƣớc, bao gồm các nguyên nhân sau (42, 46): Tai nạn giao thông (TNGT): đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thủy, hàng không.
Ngạt: đuối nƣớc, chết đuối, bị bóp cổ, hít phải khói, dị vật, nghẹn. Bỏng: nƣớc sôi, hóa chất, nhiệt, điện. Ngộ độc: thực phẩm, hóa chất, dƣợc phẩm, độc dƣợc. Tai nạn lao động: vật sắc nhọn (VSN) cắt, đâm; vật nặng rơi, đè vào cơ thể.
Động vật côn trùng (ĐVCT) cắn, đốt; ngã (té). - Tai nạn thương tích có chủ ý: xảy ra do bạo lực, có chủ ý của ngƣời khác hoặc tự mình gây ra cho bản thân mình, bao gồm các nguyên nhân sau(42, 46): Tự tử, tự sát, tự thiêu, tự cắt xén bộ phận cơ thể. Bạo lực (hành hung, đánh nhau, cƣỡng bức.); lạm dụng tình dục. Sử dụng rƣợu, ma túy quá liều gây: ngộ độc, sốc, hoang tƣởng, ngáo đá.
Liên quan đến chiến tranh, đảo chính, biểu tình, bạo động, can thiệp pháp luật. - Tai nạn thương tích không phân loại: một số TNTT không thể phân loại đƣợc vì không xác định đƣợc có chủ ý hay không, nhƣ: một trẻ ngã từ cầu thang xuống, đôi lúc sẽ khó xác định đây là tự ngã (không chủ ý) hoặc do một trẻ khác xô đẩy (có chủ ý).2 Nguyên nhân và các biện pháp phòng chống TNTT 1.1 Nguyên nhân gây ra tai nạn thương tích Có rất nhiều nguyên nhân gây ra TNTT bao gồm các nguyên nhân chủ ý và không chủ ý, tuy nhiên đề tài đề cập chủ yếu đến các TNTT không chủ ý ở trẻ em, bao gồm: Tai nạn giao thông (TNGT): Là tai nạn xảy ra do va chạm giữa các đối tƣợng tham gia giao thông đang hoạt động trên đƣờng giao thông công cộng, đƣờng chuyên dùng hoặc địa bàn giao thông công cộng (19). Ngã (té): là một sự việc làm một ngƣời phải dừng lại một cách đột ngột ở trên mặt đất, sàn nhà hoặc ở một mặt bằng thấp hơn. Trong cơ sở số liệu của WHO về thƣơng tích, tử vong do ngã và các thƣơng tích không gây tử vong đã loại trừ ngã do tấn công hoặc hành động cố ý tự làm hại mình (36).
Ngạt thở: Là trƣờng hợp bị do tắc nghẽn đƣờng hô hấp (do chất lỏng, khí, dị vật) dẫn đến thiếu ôxy, ngừng tim, biến chứng khác. cần đến sự chăm sóc y tế (41, 44). Đuối nước, chết đuối: Là tình trạng đƣờng thở bị ngập hoàn toàn trong môi trƣờng nƣớc (hồ bơi, bể chứa nƣớc, ao, hồ, sông, suối, biển, bão lụt,.) gây nên tình trạng khó thở do tắc nghẽn. Nếu đƣợc ngƣời khác cứu sống hoặc tự thoát ra khỏi tình trạng nguy hiểm thì gọi là đuối nƣớc; Nếu dẫn đến tử vong thì gọi là chết đuối (42).
Ngộ độc: Là trƣờng hợp ăn, hít phải, uống, tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến sự chăm sóc của y tế hoặc tử vong. Ngộ độc còn đƣợc phân loại theo nguyên nhân nhƣ: thức ăn, thuốc chữa bệnh, thuốc gây nghiện, hóa chất bảo vệ thực vật, gây tổn thƣơng cơ quan nội tạng hay rối loạn chức năng sinh học của cơ thể do phơi nhiễm với các hóa chất, môi trƣờng. Ngộ độc cấp là tiếp xúc với chất độc liều cao trong một lần và trong một khoảng gian ngắn với những triệu chứng xuất hiện nhanh ngay sau khi phơi nhiễm nhƣ: thức ăn nhiễm bẩn, thuốc chữa bệnh, thuốc trừ sâu, hóa chất.; Ngoài ra còn có ngộ độc mãn: ngƣợc với ngộ độc cấp nhƣ đã mô tả trên(42). 7 Bỏng: Do tác động trực tiếp của các yếu tố vật lý (nhiệt, bức xạ, điện.