Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về đau Theo Hiệp Hội Nghiên Cứu Đau Quốc Tế, cảm giác đau được định nghĩa: “Đau là một cảm giác khó chịu và là trải nghiệm cảm xúc liên quan đến tổn thương mô hiện hữu hoặc tiềm tàng, hoặc được mô tả như có tổn thương” [24]. Mặc dù đau thường được coi là một cảm giác, nhưng hơn hết nó là một trải nghiệm đa chiều hoặc đa yếu tố bao gồm giác quan, tình cảm (cảm xúc), động lực và nhận thức [89]. Đau là một trong những triệu chứng phổ biến nhất khiến bệnh nhân tìm kiếm sự giúp đỡ về Y tế, do đó giảm đau là một trong những mục tiêu hàng đầu của những người hành nghề Y.
Đau cũng có một động lực thúc đẩy mạnh mẽ, gây nên cả hai phản xạ chối bỏ và hành vi né tránh có tổ chức cao. Khía cạnh động lực của cơn đau là một chức năng chính yếu, và nếu không có nó, sinh vật sẽ không thể tồn tại. Thành phần nhận thức của cơn đau đề cập đến ý nghĩa của nó đối với cá nhân. Ví dụ, nếu cơn đau được cho là do một khối u ác tính, thì ảnh hưởng của nó đối với cá nhân sẽ lớn hơn nhiều so với cơn đau được cho là do chấn thương nhẹ do ngã [89].
Nhiều lý thuyết khác nhau về cơn đau đã được đề nghị. Một trong những lý thuyết lâu đời nhất vẫn còn đáng chú ý cho rằng khi một kích thích đau gợi lên một cảm giác cụ thể (đau), về cơ bản tương tự như thị giác và xúc giác, với các đường dẫn truyền từ “thụ thể đau” cụ thể đến các vùng thuộc thần kinh trung ương chỉ xử lý đau - các tín hiệu liên quan (lý thuyết đặc hiệu). Một nhóm lý thuyết khác đề xuất rằng kích thích đau kích hoạt một số loại thụ thể khác nhau, bao gồm cả thụ thể xúc giác, và tổng hợp các tín hiệu thuộc thần kinh. trung ương dẫn đến đau (lý thuyết tăng cường hoặc tổng hợp).
Lý thuyết thứ ba đề xuất rằng mô hình tín hiệu được tạo ra bởi kích thích đau sẽ quan trọng đối với việc nhận biết cơn đau và sự phân biệt của nó với các cảm giác khác (lý thuyết mô hình mẫu) [89]. Sự dẫn truyền cảm giác đau bao gồm dẫn truyền từ các thụ thể vào tủy sống và dẫn truyền từ tủy sống lên não. Hệ thống đồi thị - võ não cảm giác có vai trò nhận biết và phân tích cảm giác đau (tính chất, cường độ, thời gian, vị trí). Bên cạnh đó, hệ viền, vùng dưới đồi, đồi thị có vai trò gây chú ý tới cảm giác đau, tạo cảm giác khó chịu khiến cơ thể phản ứng [1], [3].
Đau có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau: theo cơ chế gây đau, theo vị trí hay theo thời gian và tính chất đau. Theo tính chất và thời gian đau, có thể chia ra thành đau cấp tính và mạn tính. Đau cấp tính là đau có cường độ mãnh liệt và ngắn ngủi. Đau cấp tính có thể là dấu hiệu của một chấn thương hay bệnh lý nội tạng, là một tín hiệu cảnh báo và bình thường sẽ chấm dứt sau khi điều trị hoặc khi mô bị tổn thương đã lành [38].
Đau mạn tính, tức là đau kéo dài hơn ba tháng, không chỉ là cơn đau cấp tính kéo dài, mà còn là những thay đổi trong hệ thống thần kinh góp phần vào sự nhạy cảm ngoại vi và trung ương. Hơn nữa, đau mạn tính có liên quan đến một loạt các triệu chứng tâm lý xã hội. Ngoài ra, đau mạn tính còn được định nghĩa là cơn đau không hết sau một tháng khi đã lành thương hoặc trong những trường hợp tổn thương kéo dài hơn 3 ‐ 6 tháng [4], [38]. Đau mạn tính không có ý nghĩa về chức năng sinh học rõ ràng, nhưng ảnh hưởng đến cảm xúc, thể chất và căng thẳng tâm lý (ngoài những khó khăn về kinh tế) đối với bệnh nhân [38].
Khi phân loại đau dựa trên vị trí khu trú, ngoài đau khu trú có vị trí cảm nhận đau và vị trí tổn thương giống nhau, còn có đau từ xa khi vùng cảm giác đau. được nhận biết ở khu vực khác với nguồn gốc thật sự của cơn đau. Đau từ xa gồm có: • Đau chuyển vị: Vùng cảm giác đau và nguồn gây đau khác nguồn dẫn truyền thần kinh [5]. • Đau phản chiếu: ví dụ như trong đau tạng, đau thường biểu hiện ở bề mặt da tương ứng [3].
Vùng cảm giác đau và nguồn gây đau cùng nguồn dẫn truyền thần kinh [5]. Định nghĩa và phân loại đau miệng-mặt 1. Định nghĩa: Đau miệng-mặt được định nghĩa là đau ở mặt hoặc miệng [55]. Đau miệng-mặt thường tập trung vào những cơn đau mạn tính không do răng ảnh hưởng đến miệng, hàm và mặt [33].
Theo Viện Hàn Lâm đau miệng-mặt Hoa Kỳ, đau miệng-mặt còn được định nghĩa là đau liên quan đến các mô cứng và mô mềm ở đầu, mặt và cổ. Những mô này, cho dù da, mạch máu, răng, tuyến hay cơ đều gửi tín hiệu đau thông qua dây thần kinh sinh ba đến não, nơi chịu trách nhiệm chính cho quá trình xử lý, kiểm soát những hành vi phức tạp. Đau miệng-mặt bao gồm các bệnh lý thần kinh, cơ xương khớp và tâm sinh lý cho đến đau đầu, ung thư, nhiễm trùng, bệnh tự miễn và chấn thương mô [61]. Phân loại đau miệng-mặt Hiện nay có các phân loại đau miệng-mặt như sau: Phân loại của Hiệp hội nghiên cứu đau quốc tế [16]; Phân loại quốc tế về rối loạn đau đầu [18]; Phân loại của Viện Hàn Lâm đau miệng-mặt Hoa Kỳ [61]; Phân loại đau miệng- mặt quốc tế [68].
Phân loại đau miệng-mặt theo Woda (2007) [89]:. Đau miệng-mặt Đau miệng-mặt cấp và mạn tính với Đau miệng-mặt mạn tính bệnh căn đơn giản không có bệnh căn đơn giản Đau miệng-mặt Rối loạn đau đầu nguyên phát Đau thần kinh dai dẳng nguyên phát (thần kinh-mạch máu) Đau Đau Đau Đau Đau đầu kiểu đầu thần thần nửa căng thẳng đầu cụm kinh kinh sau sinh chấn ba thương Hội chứng bỏng rát vùng miệng Đau cơ khớp Đau mặt không điển hình Đau Dời chỗ Viêm cân đĩa khớp cơ khớp 1. Các thể lâm sàng của đau miệng-mặt 1. Đau miệng-mặt cấp và mạn tính với bệnh căn đơn giản 1.
Rối loạn đau trong miệng. Đau trong miệng là nguyên nhân phổ biến nhất của đau miệng-mặt. Các bác sĩ RHM đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán đau trong miệng vì các rối loạn này được điều trị bởi các bác sĩ RHM. Bác sĩ phải cực kỳ cẩn thận trong việc loại trừ rối loạn đau trong miệng liên quan đến tủy răng, nha chu, niêm mạc và lưỡi [61].
Đau thần kinh sau Herpes Đau dây thần kinh sau Herpes hay đau thần kinh sau Zona là biến chứng lâu dài, phổ biến nhất của quá trình tái hoạt động của virus Varicella zoster. Dấu hiệu nhận biết là một cơn đau lan tỏa/bỏng rát ở da một bên kéo dài trong ba tháng trở lên sau khi bắt đầu bùng phát Herpes zoster. Hai yếu tố nguy cơ được chấp nhận rộng rãi là tăng tuổi và ức chế miễn dịch, và bởi vì nhiễm Herpes zoster là tiền đề cho sự phát triển của đau thần kinh sau Herpes, người già và người ốm yếu thường mắc phải [32]. Không giống như các tình trạng bệnh lý thần kinh khác, chẩn đoán đau thần kinh sau Herpes tương đối đơn giản và không phải là một loại trừ.
Như đã nói, giai đoạn mắc Herpes zoster là tiền đề cho sự phát triển của đau thần kinh sau Herpes, do đó thường hay kết hợp với tiền sử phát ban với mụn nước một bên ở da, hiếm khi không có. Đau dai dẳng (nhiều hơn hoặc bằng 3 tháng), đau lan tỏa/bỏng rát, loạn cảm đau, dị cảm, ngứa và/hoặc tăng axit tại hoặc gần vùng phát ban là dấu hiệu của đau thần kinh sau Herpes [32]. Đau thần kinh sau Herpes hầu như được chẩn đoán dựa trên tiền sử và thực thể. Tuy nhiên, các xét nghiệm và một số hình ảnh có thể hữu ích.
Chúng có giá trị lớn hơn khi các biểu hiện không điển hình, xét nghiệm huyết thanh học để tìm hiệu giá IgG và IgM miễn dịch huỳnh quang của các kháng nguyên virus varicella-zoster, xét nghiệm sinh học phân tử rất nhạy để phát hiện bộ gen. Các nghiên cứu quy mô nhỏ cho thấy rằng chụp cộng hưởng từ có thể hứa hẹn không chỉ chẩn đoán các trường hợp đau thần kinh sau Herpes khó, mà còn phân biệt giữa đau thần kinh sau Herpes và nhiễm Herpes zoster thông thường. Đau thần kinh sau Herpes rất khó điều trị. Các triệu chứng có thể tiếp diễn trong nhiều năm, đôi khi cả đời.
Có thể xem xét ba phương pháp điều trị cơ bản sau: đầu tiên là phòng ngừa, tập trung vào việc xác định các quần thể có nguy cơ mắc Herpes zoster và sử dụng vắc xin. Thứ hai là nhận biết sớm và điều trị nhiễm trùng Herpes zoster cấp tính, vì nếu chậm trễ có thể làm tăng cơ hội phát triển đau thần kinh sau Herpes. Cách tiếp cận thứ ba là quản lý triệu chứng của đau thần kinh sau Herpes thông qua các phác đồ điều trị bằng thuốc và các thủ thuật can thiệp. Đau thần kinh sau Herpes nổi tiếng là khó điều trị vì nhiều lý do.
Giải quyết hoàn toàn các triệu chứng là rất hiếm. Phương pháp điều trị truyền thống không xâm lấn bao gồm thuốc uống và thuốc bôi. Học viện Thần kinh Hoa Kỳ, nhóm quan tâm đặc biệt về Đau thần kinh và Liên đoàn Hiệp hội Thần kinh Châu Âu đều khuyến nghị thuốc chống trầm cảm ba vòng dạng uống, pregabalin và miếng dán lidocain 5% là các thuốc đầu tiên được chọn [32]. Các chế phẩm capsaicin, ở dạng miếng dán và kem, cũng có sẵn nhưng không được nghiên cứu kỹ lưỡng như miếng dán lidocain.
Kem có nồng độ capsaicin thấp, cần thoa nhiều lần trong ngày để đạt được hiệu quả điều trị. Ngược lại, miếng dán capsaicin 8%, cung cấp liều điều trị chỉ trong một lần sử dụng [12], [32]. Biểu hiện lâm sàng của nhiễm Herpes zoster thường bắt đầu với cảm giác nóng hoặc ngứa, thường ở một bên của cơ thể và phân bố dọc theo khuôn mặt, ngực hoặc bụng. Sau 4 - 5 ngày, da trở nên đỏ và sưng tấy, kèm theo đó là sự xuất hiện của các mụn nước nhỏ chứa dịch đục.
Các mụn nước này có thể bị vỡ và bong ra sau 2 - 3 tuần. Đau là phàn nàn phổ biến của bệnh nhân. nhiên, cơn đau kéo dài sau khi phát ban đã hết ít phổ biến hơn và được gọi là đau dây thần kinh sau Herpes.