CHƯƠNG I: TỎNG QUAN 1. Một số kiến thức về bỏng 1. Khái niệm chung về bỏng Bỏng là tổn thương mô tế bào do tác dụng trực tiếp của sức nóng, luồng điện, hoá chất, bức xạ được gọi chung là bỏng. Mức nhiệt độ giới hạn gây hại cho mô tế bào cơ thể con người từ 45°c đến 50°C.
Nếu nóng tới 50°C thì tổn thương có thể phục hồi, nếu nóng tới 60°C các thành phần protein bị thoái biến, tổn thương không thể phục hồi. Tính chất tổn thương của bỏng phụ thuộc vào nguyên nhân gây bỏng, hoàn cảnh xảy ra, vị trí cơ thể bị bỏng. Mức độ tổn thương thể hiện bằng diện tích bỏng và độ sâu bỏng. Người bị bỏng da có thể kết họp với bỏng một số cơ quan khác, thường là đường hô hấp, mắt.
Tổn thương bỏng khi bị nặng hoặc kéo dài gây biến đổi và rối loạn các chức phận toàn thân được gọi tổng hợp là bệnh bỏng. Bệnh bỏng thường có các biến chứng cấp xuất hiện và làm nặng thêm tiến triển của bệnh, đồng thời cũng xuất hiện trong cơ thể người bị các quá trình chống đỡ, phục hồi, miễn dịch. Khi khỏi cơ thể có thể phục hồi hoàn toàn hoặc để lại các di chứng tại chỗ hoặc toàn thân. Phân loại tổn thương bỏng Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau.
Có 5 mức độ tổn thương bỏng [15], trong đó bỏng độ I, II, III thuộc nhóm bỏng nông; bỏng độ IV, V thuộc nhóm bỏng sâu. - Bỏng độ I (Viêm da cấp do bỏng): Da khô đỏ, đau rát, sau 2-3 ngày khỏi. - Bỏng độ II (Bỏng biểu bì); Trên nền da viêm cấp có thấy các nốt phổng chứa dịch trong hoặc vàng nhạt. Các nốt phổng này có thể xuất hiện muộn sau 12-24 giờ bị bỏng.
Sau 3-4 ngày hiện tượng viêm đỡ, tại các nốt phổng dịch cô đông lại. - Bỏng độ III trung bì (bỏng trung bì nông và bỏng trung bì sâu): thể hiện dưới hình thức nốt phổng có vòm dầy, nền nốt phổng mầu đỏ tím sẫm hoặc trắng, hoặc có rỉ máu và còn cảm giác, dịch nốt phổng có thể mầu hồng hoặc có máu rỉ. 6 - Bỏng độ IV: (Bỏng toàn bộ da): Các lớp biểu bì, trung bì, hạ bì đều bị tổn thuơng. Tất cả các tổ chức biểu mô của da đều bị hoại tử.
- Bỏng độ V: (Bỏng sâu quá lớp cân dưới da): Ngoài tổn thương toàn bộ lớp da các bộ phận khác dưới da như cân, gân, cơ, xương, khớp, mạch máu, thần kinh hoặc một số tạng cũng có thể bị bỏng. Loại bỏng này thường gặp ở bỏng điện, bỏng gang, bỏng lửa khi cháy lâu trên cơ thể, ở người bị mất tri giác khi bị bỏng. Các hoàn cảnh gây ra bỏng Có các nguyên nhân gây bỏng chính như sau: - Bỏng do tai nạn sinh hoạt chiếm 65% số người bị bỏng chủ yểu do lửa bếp dầu, do xăng, các chất cháy nổ, nước sôi, thức ăn nóng, hơi nước, vôi tôi, axít, tai nạn điện. - Bỏng do tai nạn lao động chiếm 5-10% số trường hợp bỏng, hay gặp ở các xí nghiệp luyện kim, hoá chất, xăng dầu, thuốc nổ, hầm mỏ, khí đốt, phòng thí nghiệm, nhà máy nguyên tử, các cơ sở sử dụng chất phóng xạ, chất dẻo tổng hợp.
Bỏng do tai nạn giao thông chiếm khoảng 2% sổ người bị bỏng thường do cháy xe, tàu thuyền, máy bay. - Bỏng do tai nạn điều trị chiếm 1%. Thường do chườm nóng, đắp paraphin nóng, trị liệu bằng các tia bức xạ. Tác nhân gây bỏng Tác nhân gây bỏng bao gồm có sức nhiệt (khô và ướt), dòng điện, hóa chất, và bức xạ, trong đó bỏng do sức nhiệt hay gặp nhất 1.