BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGHIÊM QUANG HUY KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY-CHÂN-MIỆNG CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TỚI KHÁM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2021. LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701 2 HÀ NỘI, 2022 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGHIÊM QUANG HUY KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY-CHÂN-MIỆNG CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TỚI KHÁM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2021. LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701 Hướng dẫn khoa học GS. Phan Văn Tường 2 HÀ NỘI, 2022 i MỤC LỤC MỤC LỤC.i DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.iii DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU.iv TÓM TẮT NGHIÊN CỨU.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU. Khái niệm cơ bản. Bệnh Tay-Chân-Miệng ở trẻ dưới 5 tuổi và chăm sóc của cha mẹ trẻ 6 1. Thực trạng kiến thức và thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Một số yếu tố liên quan tới thực hành phòng bệnh Tay-Chân- Miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu.18 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu:. Phương pháp chọn mẫu:. Phương pháp thu thập số liệu:. Các nhóm biến số chính của nghiên cứu:. Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá:. Phân tích số liệu:. Đạo đức nghiên cứu:.24 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu. Kiến thức phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của bà mẹ có con < 5 tuổi 26 3. Thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của bà mẹ có con < 5 tuổi 30 3. Các yếu tố liên quan tới thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của bà mẹ có con < 5 tuổi. Liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng bệnh Tay-Chân- Miệng của bà mẹ có con < 5 tuổi. Kiến thức phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của bà mẹ. Thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của bà mẹ. Các yếu tố liên quan tới thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của bà mẹ. Hạn chế của nghiên cứu. Kiến thức và thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của bà mẹ có con < 5 tuổi. Một số yếu tố liên quan tới thực hành phòng bệnh Tay-Chân- Miệng của bà mẹ có con < 5 tuổi. Khuyến nghị với y tế địa phương. Đối với bà mẹ.46 TÀI LIỆU THAM KHẢO.50 iii PHỤ LỤC 1: Bộ câu hỏi khảo sát tự điền bà mẹ có con dưới 5 tuổi.50 PHỤ LỤC 2: Bảng biến số nghiên cứu.53 PHỤ LỤC 3: Khung chấm điểm kiến thức và thực hành của bà mẹ về phòng bệnh T.57 iv DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CBYT Cán bộ Y tế ĐTNC Đối tượng nghiên cứu ĐTPV Đối tượng phát vấn T.M Tay-Chân-Miệng WHO Tổ chức Y tế thế giới DDKK Dung dịch khử khuẩn v DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1. Khung lý thuyết nghiên cứu 2. Bảng biến số nghiên cứu 3. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 3. Nguồn thông tin T.M bà mẹ tiếp cận 3. Kiến thức phòng bệnh T.M của bà mẹ có con < 5 tuổi 3. Thực hành phòng bệnh T.M của bà mẹ có con < 5 tuổi Mối liên quan giữa yếu tố nhóm tuổi tới thực hành của bà 3. Mối liên quan giữa yếu tố dân tộc tới thực hành của bà mẹ Mối liên quan giữa yếu tố trình độ học vấn tới thực hành của 3. bà mẹ Mối liên quan giữa yếu tố nghề nghiệp tới thực hành của bà 3. mẹ Mối liên quan giữa yếu tố khu vực sống tới thực hành của bà 3. Mối liên quan giữa yếu tố số con tới thực hành của bà mẹ 3. Mối liên quan giữa nguồn thông tin tới thực hành của bà mẹ Mối liên quan giữa kiến thức tới thực hành của bà mẹ 3.12 (N=392) Biểu đồ Biểu đồ Kiến thức chung của bà mẹ về phòng bệnh T.M cho trẻ vi 1 dưới 5 tuổi Biểu đồ Thực hành chung của bà mẹ về phòng bệnh T.M cho trẻ 2 dưới 5 tuổi Phụ lục Phụ lục Phiếu phát vấn 1 vii TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Nghiên cứu “Kiến thức và thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tới khám tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2021” được tiến hành từ tháng 8/2020 tới tháng 5/2021 tại khoa Nhi của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh phúc nhằm tìm hiểu kiến thức, thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng và một số yếu tố liên quan trong nhóm bà mẹ có con dưới 5 tuổi tới khám. Đây là nghiên cứu cắt ngang kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng bộ câu hỏi tự điền. Tổng số có 392 bà mẹ tham gia nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bà mẹ trả lời đạt những biện pháp phòng bệnh Tay-Chân- Miệng >75%; tỉ lệ bà mẹ trả lời đạt về thời điểm dễ mắc bệnh <70%. Tỉ lệ bà mẹ thực hiện vệ sinh đồ chơi bằng xà phòng hoặc dung dịch khử khuẩn (73,7%). Tỉ lệ bà mẹ thực hiện lau sàn, bàn ghế và các bề mặt trong nhà chiếm (68,1%). Điểm trung bình của kiến thức là 17 ± 3,7; điểm trung bình thực hành là 19 ± 2,3. Nghiên cứu tìm ra các yếu tố liên quan tới thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi là các yếu tố trình độ học vấn (OR =2,79 [1,67 – 4,68]); phương tiện truyền thông đại chúng (OR =2,63 [1,23 – 5,66]) và kiến thức của bà mẹ (OR = 4,7 [2,79 – 7,82]). Kết quả của nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ kiến thức chung đạt là 79,1% và tỉ lệ thực hành chung đạt là 72,1%. Bà mẹ học hết cấp 3 có thực hành đạt cao gấp 2,8 lần so với bà mẹ chưa học hết cấp 3. Những bà mẹ nhận thông tin từ truyền thông đại chúng có thực hành đạt cao gấp 2,6 viii lần những bà mẹ không nhận được thông tin từ nguồn này. Bà mẹ có kiến thức chung đạt sẽ có thực hành chung đạt gấp 4,7 lần so với các bà mẹ không có kiến thức chung đạt. Nghiên cứu khuyến nghị y tế địa phương tăng cường truyền thông cho bà mẹ cải thiện hơn nữa nội dung và hình thức để nâng cao hiệu quả truyền thông trong tương lai, bà mẹ cần trang bị cho bản thân kiến thức để chủ động phòng bệnh cho con trẻ. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh Tay-Chân-Miệng do Entorovirus gây nên là bệnh truyền nhiễm, có thể gây thành dịch lớn ở nhiều nơi trên thế giới nhưng rất thường xảy nên ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Bệnh thường gặp ở trẻ em từ 6 tháng tới 5 tuổi, có biến chứng nặng và có thể gây tử vong nếu không được phát hiện xử lý kịp thời. Tại Việt Nam Tay-Chân-Miệng nằm trong 10 bệnh dẫn đầu về tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong trong số các bệnh truyền nhiễm cần khai báo. Mỗi năm có khoảng từ 50000 tới 100000 ca bệnh mắc Tay-Chân-Miệng được báo cáo trong đó có một số ca bệnh tử vong (1). Dựa trên thống kê của hệ thống báo cáo giám sát bệnh truyền nhiễm, từ đầu năm 2021 đến nay, cả nước ghi nhận 17.451 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, trong đó có 04 trường hợp tử vong tại Kiên Giang (2), An Giang (1) và Long An (1). So với cùng kỳ năm 2020, số mắc tăng 4 lần và gia tăng chủ yếu khu vực miền Nam và cục bộ tại một số tỉnh, thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An, Đồng Tháp, An Giang (2). Hiện nay chưa có vaccine phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, do đó việc nâng cao kiến thức của các bà mẹ để có thực hành và thái độ đúng trong việc phòng ngừa và chăm sóc trẻ bị Tay-Chân-Miệng là một trong những biện pháp chính để kiểm soát bệnh. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức và thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của các bà mẹ ở nhiều khu vực và các hoàn cảnh khác nhau cho những kết quả tùy theo dân số nghiên cứu (3-12). Hầu hết các nghiên cứu thực hiện ở Việt Nam ngoài cộng đồng 2 đã đưa nên các giải pháp can thiệp nhằm cải thiện được kiến thức của người dân về bệnh. Tuy vậy, thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng còn chưa tốt. Các yếu tố liên quan chính được đưa nên là các yếu tố nhân khẩu học như nhóm tuổi, dân tộc, thu nhập cá nhân,… và nguồn thông tin tiếp cận. Bên cạnh đó, nghiên cứu tại các bệnh viện ít được quan tâm và thực hiện nhưng là mô hình quan trọng giúp đánh giá rõ thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của nhóm đối tượng chăm sóc trẻ chính cùng các yếu tố liên quan sau khi đã có can thiệp cộng đồng. Thông qua các nghiên cứu tại bệnh viện tìm ra các giải pháp tích cực cải thiện hơn nữa kiến thức về phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của cộng đồng. Tỉnh Vĩnh Phúc là một trong số các tỉnh có sự gia tăng cao về số ca mắc tay- chân-miệng trong năm 2020. Theo số liệu của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc, trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh ghi nhận 244 ca mắc Tay-Chân-Miệng (tăng 189 ca so với cùng kỳ), không có ca nào tử vong (13). Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc tiếp nhận 96 bệnh nhân tới khám và điều trị bệnh Tay-Chân-Miệng tăng 152% so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt đa số trẻ được đưa tới viện đều trong tình trạng biến chứng nặng khiến cho việc điều trị trở nên khó khăn và kéo dài. Số trẻ mắc mới tay chân miệng được phát hiện chủ yếu ở thời điểm khi học sinh đi học trở lại sau thời gian nghỉ phòng, chống dịch Covid-19. Lúc này tình trạng lây chéo diễn ra rất nhanh do trường học là nơi tập trung đông người, cùng với đó là thời tiết nóng ẩm, nhiệt độ thay đổi thất thường rất thuận lợi cho sự tái phát bệnh. Có thể thấy cần tăng cường chất lượng kiến thức phòng bệnh của người dân để giảm 3 thiểu tình trạng phát hiện bệnh muộn dẫn tới các biến chứng nguy hiểm. Công tác giáo dục sức khỏe tại các cơ sở y tế là cần thiết, đặc biệt là tại các bệnh viện nơi tập trung dân cư, đặc biệt là nhóm bà mẹ có con mắc Tay-Chân-Miệng cần tránh lây lan trong cộng đồng. Nghiên cứu “Kiến thức và thực hành phòng bệnh Tay-Chân-Miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tới khám tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2021” được thực hiện lần đầu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc nhằm phân tích kiến thức và thực hành phòng bệnh Tay- Chân-Miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tới khám như thế nào?
Tổng quan nghiên cứu
Bệnh Tay-Chân-Miệng (T.C.M) là một bệnh truyền nhiễm phổ biến, đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến trẻ em dưới 5 tuổi. Tại Việt Nam, mỗi năm ghi nhận khoảng từ 50.000 đến 100.000 ca mắc, trong đó có nhiều trường hợp tử vong do biến chứng nặng. Tỉnh Vĩnh Phúc là một trong những địa phương có số ca mắc tăng cao, với 244 ca trong 6 tháng đầu năm 2020, tăng 189 ca so với cùng kỳ năm trước. Bệnh thường bùng phát vào các tháng 3-5 và 9-10 hàng năm, đặc biệt khi trẻ đi học trở lại sau thời gian nghỉ phòng chống dịch Covid-19. Hiện chưa có vaccine hay thuốc điều trị đặc hiệu, do đó việc nâng cao kiến thức và thực hành phòng bệnh của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi là biện pháp quan trọng để kiểm soát dịch bệnh.
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc từ tháng 8/2020 đến tháng 5/2021 nhằm đánh giá kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám, đồng thời xác định các yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh. Tổng cộng 392 bà mẹ tham gia khảo sát với bộ câu hỏi tự điền, tập trung vào các biện pháp phòng bệnh, nhận biết biểu hiện và xử trí khi trẻ mắc bệnh. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chương trình truyền thông và can thiệp y tế công cộng nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc và biến chứng của bệnh T.C.M tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết về kiến thức và thực hành phòng bệnh, tập trung vào các khái niệm chính sau:
- Đường lây truyền bệnh T.C.M: Qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết mũi họng, nước bọt, dịch từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với đồ dùng, đồ chơi bị nhiễm virus.
- Biện pháp phòng bệnh: Rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch khử khuẩn, vệ sinh đồ chơi, lau sàn nhà và các bề mặt tiếp xúc thường xuyên.
- Biểu hiện và biến chứng của bệnh: Nhận biết các dấu hiệu như sốt, loét miệng, nổi bóng nước, các biểu hiện nặng như sốt cao, giật mình, khó thở.
- Xử trí khi trẻ mắc bệnh: Đưa trẻ đến cơ sở y tế, cách ly trẻ bệnh, xử lý phân và rác thải hợp vệ sinh.
Khung lý thuyết cũng xem xét các yếu tố cá nhân và xã hội ảnh hưởng đến thực hành phòng bệnh như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, khu vực sinh sống và nguồn thông tin tiếp cận.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng. Đối tượng nghiên cứu là 392 bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám tại phòng khám Nhi, Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2021. Cỡ mẫu được tính toán dựa trên tỉ lệ thực hành phòng bệnh đạt 64,4% từ nghiên cứu trước đó, với sai số 5% và mức ý nghĩa 0,05.
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện tại khu vực chờ khám, đảm bảo đủ số lượng và tiêu chuẩn tham gia. Dữ liệu thu thập qua bộ câu hỏi tự điền gồm 3 phần: thông tin chung, kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M, được thiết kế dựa trên tài liệu của Bộ Y tế và các nghiên cứu liên quan. Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trước khi triển khai chính thức.
Phân tích số liệu sử dụng phần mềm SPSS 18.0 với các phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỉ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn) và phân tích mối liên quan (kiểm định khi bình phương, tỉ suất chênh OR, khoảng tin cậy 95%). Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành dựa trên thang điểm với mức cắt 2/3 tổng điểm để phân loại đạt hoặc chưa đạt.
Nghiên cứu tuân thủ các quy định đạo đức, được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt, đảm bảo sự đồng thuận tự nguyện và bảo mật thông tin người tham gia.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Kiến thức phòng bệnh T.C.M của bà mẹ: Điểm trung bình kiến thức là 17 ± 3,7 trên thang 22 điểm, với 79,1% bà mẹ đạt mức kiến thức chung. Cụ thể, 90,8% biết bệnh lây qua đường ăn uống, 75,5% biết lây qua tiếp xúc trực tiếp, 93,1% nhận thức được việc rửa tay bằng xà phòng là biện pháp phòng bệnh hiệu quả. Tuy nhiên, chỉ 9,7% biết rằng hiện chưa có vaccine phòng bệnh.
-
Thực hành phòng bệnh T.C.M của bà mẹ: Điểm trung bình thực hành là 19 ± 2,3 trên thang 21 điểm, với 72,1% bà mẹ có thực hành đạt. Tỉ lệ rửa tay cho trẻ bằng xà phòng hoặc dung dịch khử khuẩn đạt 90,8%, vệ sinh đồ chơi thường xuyên đạt 73,7%, lau sàn nhà và bàn ghế đạt 68,1%.
-
Các yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh: Trình độ học vấn có ảnh hưởng mạnh mẽ, bà mẹ học hết cấp 3 có thực hành đạt cao gấp 2,79 lần so với bà mẹ chưa học hết cấp 3 (OR=2,79; 95%CI: 1,67–4,68). Tiếp cận thông tin qua truyền thông đại chúng làm tăng khả năng thực hành đạt gấp 2,63 lần (OR=2,63; 95%CI: 1,23–5,66). Kiến thức tốt cũng làm tăng thực hành đạt gấp 4,7 lần (OR=4,7; 95%CI: 2,79–7,82).
-
Nguồn thông tin tiếp cận: 92,6% bà mẹ nhận thông tin qua truyền thông đại chúng, 53,9% qua cán bộ y tế, trong khi tài liệu truyền thông như sách báo chỉ chiếm 3,3%.
Thảo luận kết quả
Kết quả cho thấy kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M của các bà mẹ tại Vĩnh Phúc đã có sự cải thiện đáng kể so với một số nghiên cứu trước đây trong nước và khu vực. Tỉ lệ kiến thức đạt 79,1% và thực hành đạt 72,1% phản ánh hiệu quả của các chương trình truyền thông và giáo dục sức khỏe đã triển khai. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 20% bà mẹ chưa có kiến thức đầy đủ, đặc biệt về thời điểm dễ mắc bệnh và các biểu hiện nặng, cũng như một số thực hành phòng bệnh chưa được thực hiện thường xuyên.
Việc trình độ học vấn và nguồn thông tin truyền thông đại chúng ảnh hưởng rõ rệt đến thực hành phòng bệnh phù hợp với các nghiên cứu quốc tế và trong nước. Điều này nhấn mạnh vai trò của giáo dục và truyền thông trong việc nâng cao nhận thức và hành vi phòng bệnh. Các biểu đồ so sánh tỉ lệ kiến thức và thực hành theo nhóm trình độ học vấn và nguồn thông tin có thể minh họa rõ nét mối liên hệ này.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra sự cần thiết của việc tăng cường truyền thông đa dạng, không chỉ qua truyền hình, internet mà còn qua cán bộ y tế và tài liệu in ấn để tiếp cận các nhóm đối tượng khác nhau, đặc biệt là những bà mẹ có trình độ học vấn thấp hoặc sống ở khu vực nông thôn.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tăng cường truyền thông đa kênh: Phát triển các chương trình truyền thông qua truyền hình, radio, internet kết hợp với cán bộ y tế tại cộng đồng nhằm nâng cao kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M. Mục tiêu tăng tỉ lệ thực hành đạt lên trên 85% trong vòng 2 năm tới. Chủ thể thực hiện: Sở Y tế tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với các cơ quan truyền thông.
-
Đào tạo nâng cao năng lực cán bộ y tế: Tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về phòng bệnh T.C.M cho cán bộ y tế tuyến cơ sở để họ trở thành nguồn thông tin chính xác và tin cậy cho bà mẹ. Thời gian thực hiện trong 12 tháng. Chủ thể thực hiện: Bệnh viện đa khoa tỉnh và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật.
-
Phát triển tài liệu truyền thông phù hợp: Soạn thảo và phát hành tài liệu truyền thông đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với trình độ học vấn thấp, tập trung vào các biện pháp phòng bệnh và xử trí khi trẻ mắc bệnh. Mục tiêu phát hành 10.000 bản trong 1 năm. Chủ thể thực hiện: Sở Y tế và các tổ chức phi chính phủ.
-
Tổ chức các buổi tư vấn, giáo dục sức khỏe tại bệnh viện và cộng đồng: Tăng cường hoạt động tư vấn trực tiếp cho các bà mẹ khi đến khám tại bệnh viện và các điểm sinh hoạt cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức và thực hành phòng bệnh. Thời gian triển khai liên tục. Chủ thể thực hiện: Bệnh viện đa khoa tỉnh, Trung tâm Y tế các huyện.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Cán bộ y tế công cộng và nhân viên y tế tuyến cơ sở: Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực tiễn về kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M, giúp họ xây dựng các chương trình truyền thông và can thiệp phù hợp với đặc điểm địa phương.
-
Nhà quản lý y tế và chính sách: Thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành phòng bệnh giúp hoạch định chính sách y tế công cộng hiệu quả, phân bổ nguồn lực hợp lý.
-
Các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành y tế công cộng: Luận văn là tài liệu tham khảo quý giá về phương pháp nghiên cứu cắt ngang, phân tích mối liên quan giữa kiến thức và thực hành trong phòng bệnh truyền nhiễm.
-
Các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng: Giúp thiết kế các chương trình giáo dục sức khỏe, truyền thông phù hợp nhằm nâng cao nhận thức và hành vi phòng bệnh cho nhóm đối tượng chăm sóc trẻ nhỏ.
Câu hỏi thường gặp
-
Bệnh Tay-Chân-Miệng lây truyền qua những con đường nào?
Bệnh lây chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết mũi họng, nước bọt, dịch từ các nốt phỏng hoặc qua đồ dùng, đồ chơi bị nhiễm virus. Ví dụ, trẻ chơi chung đồ chơi chưa được vệ sinh có thể bị lây nhiễm. -
Có vaccine phòng bệnh Tay-Chân-Miệng không?
Hiện tại chưa có vaccine phòng bệnh Tay-Chân-Miệng. Do đó, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là vệ sinh cá nhân và môi trường, đặc biệt rửa tay bằng xà phòng thường xuyên. -
Những biểu hiện nào cho thấy trẻ mắc bệnh Tay-Chân-Miệng?
Trẻ thường có sốt, loét miệng, nổi bóng nước ở tay, chân, miệng. Biểu hiện nặng có thể là sốt cao ≥ 39 độ, giật mình, khó thở. Phát hiện sớm giúp xử trí kịp thời. -
Các bà mẹ nên thực hiện những biện pháp phòng bệnh nào cho trẻ?
Rửa tay cho trẻ và bản thân bằng xà phòng hoặc dung dịch khử khuẩn nhiều lần trong ngày, vệ sinh đồ chơi, lau sàn nhà, tránh cho trẻ tiếp xúc với người bệnh. Thực hành này đã được chứng minh làm giảm nguy cơ mắc bệnh. -
Yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thực hành phòng bệnh của bà mẹ?
Trình độ học vấn, nguồn thông tin tiếp cận qua truyền thông đại chúng và kiến thức về bệnh là những yếu tố chính ảnh hưởng đến thực hành phòng bệnh. Ví dụ, bà mẹ có kiến thức tốt có khả năng thực hành đúng gấp gần 5 lần so với bà mẹ chưa có kiến thức.
Kết luận
- Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2021 cho thấy 79,1% bà mẹ có kiến thức đạt và 72,1% có thực hành đạt về phòng bệnh Tay-Chân-Miệng.
- Trình độ học vấn, tiếp cận thông tin truyền thông đại chúng và kiến thức về bệnh là các yếu tố liên quan mạnh mẽ đến thực hành phòng bệnh.
- Việc nâng cao chất lượng truyền thông và giáo dục sức khỏe cho bà mẹ là cần thiết để giảm thiểu tỷ lệ mắc và biến chứng của bệnh.
- Các giải pháp đề xuất tập trung vào truyền thông đa kênh, đào tạo cán bộ y tế, phát triển tài liệu phù hợp và tư vấn trực tiếp tại cộng đồng.
- Tiếp tục nghiên cứu và triển khai các chương trình can thiệp trong vòng 2 năm tới nhằm nâng cao hiệu quả phòng bệnh Tay-Chân-Miệng tại địa phương.
Hành động ngay hôm nay để bảo vệ sức khỏe trẻ nhỏ và giảm thiểu tác động của bệnh Tay-Chân-Miệng trong cộng đồng!