Tổng quan nghiên cứu
Bệnh Tay-Chân-Miệng (T.C.M) là một bệnh truyền nhiễm phổ biến, đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến trẻ em dưới 5 tuổi. Tại Việt Nam, mỗi năm ghi nhận khoảng từ 50.000 đến 100.000 ca mắc, trong đó có nhiều trường hợp tử vong do biến chứng nặng. Tỉnh Vĩnh Phúc là một trong những địa phương có số ca mắc tăng cao, với 244 ca trong 6 tháng đầu năm 2020, tăng 189 ca so với cùng kỳ năm trước. Bệnh thường bùng phát vào các tháng 3-5 và 9-10 hàng năm, đặc biệt khi trẻ đi học trở lại sau thời gian nghỉ phòng chống dịch Covid-19. Hiện chưa có vaccine hay thuốc điều trị đặc hiệu, do đó việc nâng cao kiến thức và thực hành phòng bệnh của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi là biện pháp quan trọng để kiểm soát dịch bệnh.
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc từ tháng 8/2020 đến tháng 5/2021 nhằm đánh giá kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám, đồng thời xác định các yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh. Tổng cộng 392 bà mẹ tham gia khảo sát với bộ câu hỏi tự điền, tập trung vào các biện pháp phòng bệnh, nhận biết biểu hiện và xử trí khi trẻ mắc bệnh. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chương trình truyền thông và can thiệp y tế công cộng nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc và biến chứng của bệnh T.C.M tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết về kiến thức và thực hành phòng bệnh, tập trung vào các khái niệm chính sau:
- Đường lây truyền bệnh T.C.M: Qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết mũi họng, nước bọt, dịch từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với đồ dùng, đồ chơi bị nhiễm virus.
- Biện pháp phòng bệnh: Rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch khử khuẩn, vệ sinh đồ chơi, lau sàn nhà và các bề mặt tiếp xúc thường xuyên.
- Biểu hiện và biến chứng của bệnh: Nhận biết các dấu hiệu như sốt, loét miệng, nổi bóng nước, các biểu hiện nặng như sốt cao, giật mình, khó thở.
- Xử trí khi trẻ mắc bệnh: Đưa trẻ đến cơ sở y tế, cách ly trẻ bệnh, xử lý phân và rác thải hợp vệ sinh.
Khung lý thuyết cũng xem xét các yếu tố cá nhân và xã hội ảnh hưởng đến thực hành phòng bệnh như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, khu vực sinh sống và nguồn thông tin tiếp cận.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng. Đối tượng nghiên cứu là 392 bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám tại phòng khám Nhi, Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2021. Cỡ mẫu được tính toán dựa trên tỉ lệ thực hành phòng bệnh đạt 64,4% từ nghiên cứu trước đó, với sai số 5% và mức ý nghĩa 0,05.
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện tại khu vực chờ khám, đảm bảo đủ số lượng và tiêu chuẩn tham gia. Dữ liệu thu thập qua bộ câu hỏi tự điền gồm 3 phần: thông tin chung, kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M, được thiết kế dựa trên tài liệu của Bộ Y tế và các nghiên cứu liên quan. Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trước khi triển khai chính thức.
Phân tích số liệu sử dụng phần mềm SPSS 18.0 với các phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỉ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn) và phân tích mối liên quan (kiểm định khi bình phương, tỉ suất chênh OR, khoảng tin cậy 95%). Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành dựa trên thang điểm với mức cắt 2/3 tổng điểm để phân loại đạt hoặc chưa đạt.
Nghiên cứu tuân thủ các quy định đạo đức, được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt, đảm bảo sự đồng thuận tự nguyện và bảo mật thông tin người tham gia.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Kiến thức phòng bệnh T.C.M của bà mẹ: Điểm trung bình kiến thức là 17 ± 3,7 trên thang 22 điểm, với 79,1% bà mẹ đạt mức kiến thức chung. Cụ thể, 90,8% biết bệnh lây qua đường ăn uống, 75,5% biết lây qua tiếp xúc trực tiếp, 93,1% nhận thức được việc rửa tay bằng xà phòng là biện pháp phòng bệnh hiệu quả. Tuy nhiên, chỉ 9,7% biết rằng hiện chưa có vaccine phòng bệnh.
-
Thực hành phòng bệnh T.C.M của bà mẹ: Điểm trung bình thực hành là 19 ± 2,3 trên thang 21 điểm, với 72,1% bà mẹ có thực hành đạt. Tỉ lệ rửa tay cho trẻ bằng xà phòng hoặc dung dịch khử khuẩn đạt 90,8%, vệ sinh đồ chơi thường xuyên đạt 73,7%, lau sàn nhà và bàn ghế đạt 68,1%.
-
Các yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh: Trình độ học vấn có ảnh hưởng mạnh mẽ, bà mẹ học hết cấp 3 có thực hành đạt cao gấp 2,79 lần so với bà mẹ chưa học hết cấp 3 (OR=2,79; 95%CI: 1,67–4,68). Tiếp cận thông tin qua truyền thông đại chúng làm tăng khả năng thực hành đạt gấp 2,63 lần (OR=2,63; 95%CI: 1,23–5,66). Kiến thức tốt cũng làm tăng thực hành đạt gấp 4,7 lần (OR=4,7; 95%CI: 2,79–7,82).
-
Nguồn thông tin tiếp cận: 92,6% bà mẹ nhận thông tin qua truyền thông đại chúng, 53,9% qua cán bộ y tế, trong khi tài liệu truyền thông như sách báo chỉ chiếm 3,3%.
Thảo luận kết quả
Kết quả cho thấy kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M của các bà mẹ tại Vĩnh Phúc đã có sự cải thiện đáng kể so với một số nghiên cứu trước đây trong nước và khu vực. Tỉ lệ kiến thức đạt 79,1% và thực hành đạt 72,1% phản ánh hiệu quả của các chương trình truyền thông và giáo dục sức khỏe đã triển khai. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 20% bà mẹ chưa có kiến thức đầy đủ, đặc biệt về thời điểm dễ mắc bệnh và các biểu hiện nặng, cũng như một số thực hành phòng bệnh chưa được thực hiện thường xuyên.
Việc trình độ học vấn và nguồn thông tin truyền thông đại chúng ảnh hưởng rõ rệt đến thực hành phòng bệnh phù hợp với các nghiên cứu quốc tế và trong nước. Điều này nhấn mạnh vai trò của giáo dục và truyền thông trong việc nâng cao nhận thức và hành vi phòng bệnh. Các biểu đồ so sánh tỉ lệ kiến thức và thực hành theo nhóm trình độ học vấn và nguồn thông tin có thể minh họa rõ nét mối liên hệ này.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra sự cần thiết của việc tăng cường truyền thông đa dạng, không chỉ qua truyền hình, internet mà còn qua cán bộ y tế và tài liệu in ấn để tiếp cận các nhóm đối tượng khác nhau, đặc biệt là những bà mẹ có trình độ học vấn thấp hoặc sống ở khu vực nông thôn.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tăng cường truyền thông đa kênh: Phát triển các chương trình truyền thông qua truyền hình, radio, internet kết hợp với cán bộ y tế tại cộng đồng nhằm nâng cao kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M. Mục tiêu tăng tỉ lệ thực hành đạt lên trên 85% trong vòng 2 năm tới. Chủ thể thực hiện: Sở Y tế tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với các cơ quan truyền thông.
-
Đào tạo nâng cao năng lực cán bộ y tế: Tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về phòng bệnh T.C.M cho cán bộ y tế tuyến cơ sở để họ trở thành nguồn thông tin chính xác và tin cậy cho bà mẹ. Thời gian thực hiện trong 12 tháng. Chủ thể thực hiện: Bệnh viện đa khoa tỉnh và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật.
-
Phát triển tài liệu truyền thông phù hợp: Soạn thảo và phát hành tài liệu truyền thông đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với trình độ học vấn thấp, tập trung vào các biện pháp phòng bệnh và xử trí khi trẻ mắc bệnh. Mục tiêu phát hành 10.000 bản trong 1 năm. Chủ thể thực hiện: Sở Y tế và các tổ chức phi chính phủ.
-
Tổ chức các buổi tư vấn, giáo dục sức khỏe tại bệnh viện và cộng đồng: Tăng cường hoạt động tư vấn trực tiếp cho các bà mẹ khi đến khám tại bệnh viện và các điểm sinh hoạt cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức và thực hành phòng bệnh. Thời gian triển khai liên tục. Chủ thể thực hiện: Bệnh viện đa khoa tỉnh, Trung tâm Y tế các huyện.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Cán bộ y tế công cộng và nhân viên y tế tuyến cơ sở: Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực tiễn về kiến thức và thực hành phòng bệnh T.C.M, giúp họ xây dựng các chương trình truyền thông và can thiệp phù hợp với đặc điểm địa phương.
-
Nhà quản lý y tế và chính sách: Thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành phòng bệnh giúp hoạch định chính sách y tế công cộng hiệu quả, phân bổ nguồn lực hợp lý.
-
Các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành y tế công cộng: Luận văn là tài liệu tham khảo quý giá về phương pháp nghiên cứu cắt ngang, phân tích mối liên quan giữa kiến thức và thực hành trong phòng bệnh truyền nhiễm.
-
Các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng: Giúp thiết kế các chương trình giáo dục sức khỏe, truyền thông phù hợp nhằm nâng cao nhận thức và hành vi phòng bệnh cho nhóm đối tượng chăm sóc trẻ nhỏ.
Câu hỏi thường gặp
-
Bệnh Tay-Chân-Miệng lây truyền qua những con đường nào?
Bệnh lây chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết mũi họng, nước bọt, dịch từ các nốt phỏng hoặc qua đồ dùng, đồ chơi bị nhiễm virus. Ví dụ, trẻ chơi chung đồ chơi chưa được vệ sinh có thể bị lây nhiễm. -
Có vaccine phòng bệnh Tay-Chân-Miệng không?
Hiện tại chưa có vaccine phòng bệnh Tay-Chân-Miệng. Do đó, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là vệ sinh cá nhân và môi trường, đặc biệt rửa tay bằng xà phòng thường xuyên. -
Những biểu hiện nào cho thấy trẻ mắc bệnh Tay-Chân-Miệng?
Trẻ thường có sốt, loét miệng, nổi bóng nước ở tay, chân, miệng. Biểu hiện nặng có thể là sốt cao ≥ 39 độ, giật mình, khó thở. Phát hiện sớm giúp xử trí kịp thời. -
Các bà mẹ nên thực hiện những biện pháp phòng bệnh nào cho trẻ?
Rửa tay cho trẻ và bản thân bằng xà phòng hoặc dung dịch khử khuẩn nhiều lần trong ngày, vệ sinh đồ chơi, lau sàn nhà, tránh cho trẻ tiếp xúc với người bệnh. Thực hành này đã được chứng minh làm giảm nguy cơ mắc bệnh. -
Yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thực hành phòng bệnh của bà mẹ?
Trình độ học vấn, nguồn thông tin tiếp cận qua truyền thông đại chúng và kiến thức về bệnh là những yếu tố chính ảnh hưởng đến thực hành phòng bệnh. Ví dụ, bà mẹ có kiến thức tốt có khả năng thực hành đúng gấp gần 5 lần so với bà mẹ chưa có kiến thức.
Kết luận
- Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2021 cho thấy 79,1% bà mẹ có kiến thức đạt và 72,1% có thực hành đạt về phòng bệnh Tay-Chân-Miệng.
- Trình độ học vấn, tiếp cận thông tin truyền thông đại chúng và kiến thức về bệnh là các yếu tố liên quan mạnh mẽ đến thực hành phòng bệnh.
- Việc nâng cao chất lượng truyền thông và giáo dục sức khỏe cho bà mẹ là cần thiết để giảm thiểu tỷ lệ mắc và biến chứng của bệnh.
- Các giải pháp đề xuất tập trung vào truyền thông đa kênh, đào tạo cán bộ y tế, phát triển tài liệu phù hợp và tư vấn trực tiếp tại cộng đồng.
- Tiếp tục nghiên cứu và triển khai các chương trình can thiệp trong vòng 2 năm tới nhằm nâng cao hiệu quả phòng bệnh Tay-Chân-Miệng tại địa phương.
Hành động ngay hôm nay để bảo vệ sức khỏe trẻ nhỏ và giảm thiểu tác động của bệnh Tay-Chân-Miệng trong cộng đồng!