CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ TUÂN THỦ THUẾ VÀ CHUYỂN GIÁ 1.1 Tuân thủ thuế 1.1 Khái niệm về tuân thủ thuế Có nhiều định nghĩa khác nhau về như thế nào là tuân thủ thuế. Nói một cách ngắn gọn, “tuân thủ thuế là mức độ NNT chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế” (Jame và Alley, 1999). Hay cụ thể hơn, Shingh (2003) cho rằng “Tuân thủ thuế là hành động của người nộp tờ khai thuế, công khai chính xác tất cả các khoản thu nhập chịu thuế và thanh toán đầy đủ các khoản thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không phải chờ đợi hành động từ cơ quan thuế”. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD, 2004) đã khái quát sự tuân thủ thuế: “là phạm vị mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình” Đồng thời, khái niệm tuân thủ thuế còn được xem xét, đánh giá dựa trên gốc độ thực hiện nghĩa vụ thuế một cách tự nguyện hoặc không tự nguyện.
Hầu hết các nhà quản lý thuế đều đánh giá mức độ tuân thủ của NNT với giả thiết cho rằng hầu như các NNT về bản chất là đều không tự nguyện tuân thủ vì nhiều lý do khác nhau mà cần có sự tác động đến từ CQT. Jame và Alley (1999) có viết: “Câu hỏi đặt ra là sự tuân thủ có được là do hành vi tự nguyện hay bắt buộc? Nếu NNT tuân thủ chỉ vì sự đe dọa hoặc các biện pháp hành chính, hoặc do cả hai, thì điều này không được cho là hoàn cảnh tuân thủ ngay cả khi khoản thu từ thuế đạt 100% so với mức phải nộp theo luật định”. Như vậy, việc cưỡng chế DN tuân theo luật theo tác động của CQT chỉ là phương pháp tác động nhất thời làm NNT e sợ mà giảm mức độ trốn thuế. Nhưng về lâu dài, việc cưỡng chế thực hiện này không thể nâng cao tính tuân thủ thuế.
Một khái niệm về định nghĩa tính tuân thủ thuế thích hợp hơn phải thể hiện được sự tuân thủ thuế của NNT khi mà CQT không cần sử dụng các biện pháp tác động nào. Mặt khác, yếu tố thời gian nên được sử dụng bổ sung vào để đánh giá sự tuân thủ thuế có được thực hiện một cách tự nguyện hay không. Khi NNT thực hiện việc kê khai đầy đủ chính xác nghĩa vụ thuế của mình nhưng lại chậm trễ thực hiện nghĩa vụ 11 nộp thuế đó, ngay cả khi mà NNT chấp nhận chi trả các khoản tiền chậm nộp thì đó không thể được đánh giá là sự tuân thủ thuế một cách tự nguyện. Như vậy, có thể giải thích việc tuân thủ thuế là việc NNT tự nguyện nộp tờ khai, kê khai các yếu tố để xác nhận thu nhập thực tế và các khoản khấu trừ, miễn và giảm thuế một cách đầy đủ.
Đồng thời NNT phải nộp thuế đúng thời hạn theo quy định trong luật thuế. Tuy nhiên, khía cạnh “tự nguyện” theo định nghĩa trên còn bị tác động bởi nhiều yếu tố về tâm lý học và xã hội học ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của NNT. Đây là tiêu chuẩn để CQT phân biệt giữa việc tuân thủ bị động (tuân thủ thuế dưới sự sự cưỡng chế từ CQT) hay tuân thủ thuế chủ động (khi không cần hoặc ít cần đến sự cưỡng chế từ CQT). Đồng thời, bên cạnh việc khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện của NNT cần phải thực hiện song song với việc ngăn ngừa những hành vi không có ý định tuân thủ.2 Không tuân thủ thuế Ở mỗi quốc gia khác nhau thì NNT có các nghĩa vụ về thuế khác nhau.
Nhưng theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2004) thì có bốn nghĩa vụ thuế sẽ thực hiện ở bất cứ quốc gia nào, cụ thể: - Đăng ký thuế; - Nộp tờ khai và các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; - Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu trữ sổ sách); - Nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn. Khi mà NNT không thể thực hiện một trong bốn nghĩa vụ được đề cập ở trên thì NNT có thể được xác định là không tuân thủ thuế. Tuy nhiên, tùy vào tình hình số lượng nghĩa vụ không được hoàn thành thì mức độ không tuân thủ càng tăng. Ở góc độ QLT của nhà nước, sự không tuân thủ được xem xét theo hai chiều hướng: dự tính và không dự tính.
Đối với sự không tuân thủ không dự tính, NNT hoàn toàn tự nguyện tuân thủ nhưng do không biết cách thực hiện hoặc hiểu sai về nghĩa vụ thuế của bản thân hay 12 thậm chí là hiểu sai luật. Do đó, để ngăn ngừa, Công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT của CQT có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sự không tuân thủ thuế không dự tính. Bên cạnh hành vi không tuân thủ không dự tính, còn có hành vi không tuân thủ dự tính, hành vi này thì được phân thành: hành vi “tránh thuế” và hành vi “trốn thuế”. Rất khó để phân biệt giữa hành vi “tránh thuế” tức là vận dũng những khe hở của pháp luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp thuế và hành vi “trốn thuế” tức sự vi phạm pháp luật (Bird and Oliver, 1990); Xét về quan điểm đạo đức xã hội thì cả hai đều không khác nhau (theo sandmo, A.
Nếu đứng trên góc độ kinh tế vĩ mô, “tránh thuế” và “trốn thuế” đều là những hành vi mang lại tác động tiêu cực tương tự nhau đối với NSNN. Còn xét theo cơ sở pháp lý, việc tuân thủ thuế nếu được nhìn từ góc độ từ hành vi “tránh thuế” hay đến hành vi “trốn thuế” sẽ mang theo những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của chúng nên dẫn tới sự khác biệt rõ ràng. Theo đó, việc “tránh thuế” là nói đến những phương pháp len lỏi qua những kẽ hở của pháp luật để làm giảm nghĩa vụ thuế một cách hợp lệ còn “trốn thuế” là nói đến những phương pháp vi phạm pháp luật (Jame và Alley, 1999).; Như đã đề cập đến trong khái niệm tuân thủ thuế, tính “tự nguyện” trong việc tuân thủ thuế bị các yếu tố về tâm lý học và xã hội học ảnh hưởng. Khi xét trên gốc độ tậm lý hành vi: do cơ sở về pháp lý có sự khác biệt rõ rệt, vì vậy lựa chọn hành vi trốn thuế hay tránh thuế đối với DN là hoàn toàn khác nhau và từ đó tác động đến lựa chọn hành vi tuân thủ thuế.
Về mức độ, trốn thuế được coi là hành vi tiêu cực hơn tránh thuế., (2001): kiến thức về thuế của NNT càng cao thì “tránh thuế” sẽ là lựa chọn ưu tiên để có thể đảm bảo mức độ an toàn cho chính NNT. Ngược lại, kiến thức về thuế càng hẹp thì NNT sẽ càng có xu hướng lựa chọn việc “trốn thuế” nhiều hơn. Như vậy, không tuân thủ thuế là việc không sẵn lòng tuân theo luật thuế hoặc khai báo không chính xác, thực hiện kê khai các khoản giảm trừ, miễn giảm thuế hoặc 13 không thanh toán chính xác nghĩa vụ thuế, ngoài thời gian nộp thuế đã được quy định (Kasipillai và Jabbar, 2003).3 Các mức độ tuân thủ và không tuân thủ Theo Ahmed và Braithwaite (2005) thì căn cứ trên mức độ sẵn sàng và khả năng thực hiện các nghĩa vụ thuế của DN mà ta có thể phân chia cấp độ hay đo lường mức độ tuân thủ thuế của chính DN đó. Điều này cũng thể hiện mức độ mối quan hệ giữa DN với CQT, hay thể hiện mức độ chấp nhận tuân thủ hay từ chối tuân thủ các quy định pháp luật thuế, công cụ quản lý thuế.
Có 04 cấp độ tuân thủ của DN như sau: Một là, cấp độ cam kết. Các DN có thiện cảm ở mức độ cao đối với hoạt động của CQT. Họ sẵn sàng và chủ động hợp tác với CQT thực hiện kế hoạch quản lý thuế do CQT đề ra và tuân thủ một cách tích cực, thậm chí các DN này có thể thay mặt CQT thực hiện việc tuyên truyền, khuyến khích các DN khác tuân thủ; Hai là, cấp độ chấp nhận. DN ở mức độ này thiếu đi sự chủ động hợp tác với CQT.
Tuy nhiên, họ vẫn chấp nhận những yêu cầu quản lý thuế và tin tưởng vào CQT; Ba là, cấp độ miễn cưỡng. Các DN không thoải mái khi nhận những yêu cầu quản lý thuế do đó sẽ có tư tưởng chống đối. Khi đó sẽ có trường hợp sự đối đầu, đối nghịch giữa DN với cơ quan thuế; Bốn là, từ chối. ở mức độ này, DN hoàn toàn không có thiện cảm với CQT.
Các DN sẽ không muốn tuân thủ kế hoạch quản lý và tự tách mình khỏi sự quản lý của CQT. Mô hình cấp độ tuân thủ thuế là mô hình tam giác, với một số lượng lớn các DN ở cấp độ cam kết, DN ở cấp độ chấp nhận ít hơn nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn và có rất ít trường hợp DN ở cấp độ miễn cưỡng. Còn DN ở cấp độ từ chối chỉ là thiểu số, rất hiếm khi xảy ra. Ở mỗi cấp độ tuân thủ thuế ở trên đều được thể hiện qua 03 chỉ số: tự nguyện; nộp đủ; đúng thời gian.1: Các cấp độ tuân thủ thuế của DN STT Cấp độ tuân thủ Tự nguyện Nộp đủ Đúng thời gian 1 Từ chối Không Không Không 2 Miễn cưỡng Không Có Không 3 Chấp nhận Không Có Có 4 Cam kết Có Có Có Nguồn: Ahmed và Braithwaite (2005) Tuy nhiên, “Mô hình các cấp độ tuân thủ của DN chỉ đúng đối với các nước phát triển, nơi mà có DN có tinh thần và đạo đức thuế cao và ít bị cản trở bởi các tác động kinh tế đến sự tuân thủ, nên không phù hợp với các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi có tinh thần thuế thấp và gánh nặng về chi phí tuân thủ quá lớn” (Học viện tài chính, 2010) 1.4 Các yếu tố ảnh hường đến hành vi tuân thủ thuế của DN Đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, một trong những lĩnh vực nghiên cứu được chú trọng trong vài thập niên qua và có nhiều đóng góp cho nền kinh tế học phải nói đến khoa học về hành vi tuân thủ thuế.
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế. Và cho thấy rằng có rất nhiều yếu tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của NNT ở nhiều mức độ khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu của các nhà khoa học, tác giả tổng kết lại những yếu tố tác động đến có tính phổ biến như sau: 1.1 Thuế suất Có nhiều nhận định về ảnh hưởng của thuế suất đến hành vi tuân thủ thuế của NNT trong những nghiên cứu khác nhau.