lời mở đầu giải thích về chuẩn mực kiểm toán của Vương Quốc Anh", kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một đơn vị do Kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện các công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”. Hiện nay có rất nhiều cách phân loại kiểm toán khác nhau. Căn cứ vào chủ thể kiểm toán bao gồm: KTNB, kiểm toán nhà nƣớc và kiểm toán độc lập. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ đi tìm hiểu và phân tích chi tiết hoạt động KTNB của NHTM.
Định nghĩa kiểm toán nội của Ngân hàng Thương Mại Cùng với sự ra đời và phát triển rộng rãi của KTNB trên thế giới là nhiều định nghĩa khác nhau về KTNB, xuất phát từ những cái nhìn riêng của các tổ chức khác nhau và ở những thời điểm khác nhau. Có nhiều cách định nghĩa về KTNB. Theo Hội nghề nghiệp kế toán Anh quốc(EAA), định nghĩa KTNB nhƣ sau: "Một hệ thống kiểm tra toàn diện có kinh nghiệm tài chính và các lĩnh vực khác được thành lập bởi quản trị nhằm: (1) Tiến hành kinh doanh của đơn vị trong trật tự và có hiệu quả; (2) Đảm bảo tuân thủ tuyệt đối đường lối kinh doanh của Ban quản trị; (3) Giữ tài sản an toàn; (4) Đảm bảo tính toàn diện và chính xác của số liệu hạch toán, những thành phần riêng lẻ của hệ thống kiểm tra nội bộ đuợc coi là hoạt động kiểm tra hoặc hoạt động kiểm tra nội bộ”; Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì: "Hệ thống kiểm tra của đơn vị là toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp phải 7 tuân theo. Hệ thống kiểm tra nội bộ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả tôn trọng các qui chế quản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy” gọi là KTNB.
Theo Viện KTNB (IIA): " KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết kế bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó". Trên thực tế mới chỉ có định nghĩa chung về KTNB và chƣa có định nghĩa riêng cho hoạt động KTNB của NHTM. Tại Việt Nam theo khoản 5 điều 3 thông tƣ số 24/2021/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam định nghĩa KTNB của các tổ chức tài chính là:“ Tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp với hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”. Theo điều 41, luật các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam số 47/2010/QH12 quy định hoạt động KTNB của NHTM nhƣ sau: “KTNB thực hiện rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật” và “ Tổ chức tín dụng phải thành lập KTNB chuyên trách thuộc Ban kiểm soát thực hiện KTNB tổ chức tín dụng” Nhƣ vậy có thể hiểu KTNB xuất hiện trong thực tế nhƣ là một kết quả nảy sinh từ nhu cầu của công tác quản lý cơ bản trong một tổ chức nói chung và của các NHTM nói riêng, nhằm thẩm tra và đánh giá lại cái mà đơn vị đã làm.
Một khi các nghiệp vụ phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp, nhu cầu này phát triển thành đòi 8 hỏi phải thành lập một bộ phận thực hiện chức năng KTNB, chịu trách nhiệm kiểm tra và báo cáo lại cho ngƣời chủ, rằng tài sản của đơn vị có đƣợc bảo vệ tốt không, các qui tắc, qui phạm của đơn vị có đƣợc tuân thủ không, sổ sách tài chính có đƣợc ghi chép đầy đủ không. Bên cạnh đó, bộ phận này còn có nhiệm vụ phát hiện gian lận và giữ gìn mọi thứ nguyên v n. Trên phạm vi rộng hơn, KTNB còn đƣợc coi là sự mở rộng mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động của kiểm toán viên bên ngoài. Mục đích hoạt động Kiểm toán nội bộ của ngân hàng Thương mại.
KTNB là một chức năng đánh giá độc lập đƣợc thiết lập trong NHTM , để kiểm tra và đánh giá hoạt động của tổ chức ngân hàng đó, với mục đích giúp cho các thành viên, bộ phận, phòng ban của NHTM hoàn thành hữu hiệu và đúng theo quy định, trách nhiệm của mình. Cụ thể nhƣ sau: - KTNB của NHTM nhằm thực hiện kiểm toán đối với tất cả các quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM tu thuộc theo quy mô và mức độ rủi ro của những hoạt động đó. Hoạt động KTNB trong NHTM mục đích kiểm tra đánh giá về: Khả năng hoạt động, tính hiệu quả và sự thoả đáng của các cơ chế quản lý, điều hành rủi ro. Đánh giá việc tuân thủ các quy định của NHNN, pháp luật và các quy định nội bộ của NHTM Xác định mức độ phù hợp với luật và quy chế quản lý cả trong việc ban hành chính sách và thủ tục nội bộ NHTM.
Xác định chất lƣợng thực hiện của cả ban quản lý và cán bộ nhân viên ngân hàng trong việc thực hiện các trách nhiệm đƣợc giao. Kiến nghị các phƣơng án phòng ngừa rủi ro và cải thiện hoạt động kinh doanh của NHTM Tƣ vấn cho các bộ phận chức năng chuyên môn trong NHTM khi triển khai thực hiện các đề án và giúp đỡ giải quyết khó khăn vƣớng mắc. Sự cần thiết của Kiểm toán nội bộ đối với ngân hàng Thương mại NHTM hoạt động kinh doanh các sản phẩm dịch vụ liên quan đến tài chính, là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt. Vì vậy KTNB hoạt động kinh doanh của các NHTM là vô cùng cần thiết đóng góp vào sự minh bạch và phát triển bền vững của 9 mỗi tổ chức ngân hàng.
Chức năng, vai trò vô cùng to lớn của KTNB đối với NHTM có thể kể đến nhƣ sau: Thứ nhất, KTNB giúp các NHTM nhận định, phân tích và đánh giá những rủi ro có thể làm cho các thông tin tài chính và thông tin hoạt động kinh doanh của ngân hàng trở nên không đáng tin cậy. Từ đó đề xuất những giải pháp để cải thiện cách thức ghi nhận, đo lƣờng phân loại và báo cáo về những thông tin này. Thứ hai, KTNB giúp ngân hàng nhận định, phân tích và đánh giá những vấn đề có thể làm cho các hoạt động của NHTM không hữu hiệu hoặc thiếu hiệu quả; đề xuất những biện pháp để sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn lực của đơn vị. Thứ ba, KTNB giúp NHTM nhận định, phân tích và đánh giá những rủi ro có thể làm cho tài sản của đơn vị bị tham ô, biển thủ…; đề xuất những biện pháp để cải thiện sự hữu hiệu trong phƣơng thức bảo vệ tài sản.
Thứ tƣ, KTNB giúp NHTM nhận định, phân tích và đánh giá những rủi ro có thể làm cho luật lệ và các qui định đối với các tổ chức tín dụng không đƣợc tuân thủ; đề xuất những biện pháp cải thiện nhằm xây dựng hệ thống quản lý hữu hiệu hơn. Phạm vi hoạt động Kiểm toán nội bộ tại ngân hàng Thương mại. KTNB trong ngân hàng là việc thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận và đánh giá tính thích hợp, tính hiệu quả của hệ thống kế toán, hệ thống các cơ chế, quy chế quy định, biện pháp và các hƣớng dẫn quy trình nghiệp vụ cũng nhƣ chất lƣợng thực thi những trách nhiệm đƣợc giao. Do đó phạm vi của hoạt động KTNB tại NHTM bao gồm: Kiểm toán nghiệp vụ tín dụng: Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng đồng thời nó cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro vì vậy khi tiến hành kiểm toán phải quan tâm đến các vấn đề chủ yếu: (1) Kiểm toán tƣ cách pháp lý, khả năng tài chính của khách hàng; (2) Kiểm toán cơ cấu tín dụng và đƣa ra nhận định về rủi ro; (3) Kiểm toán tài sản đảm bảo tín dụng về tính pháp lý, về giá trị, khả năng phát mại; (4) kiểm toán quy trình xét duyệt, hồ sơ tín dụng, hồ sơ thẩm định, giám sát tín dụng.
Kiểm toán nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối: (1) Kiểm toán sự phân tách chức 10 năng cả về khía cạnh tổ chức lẫn chức năng của bộ phận chia dịch với các bộ phận khác trong kinh doanh ngoại hối, vì do đặc điểm của kinh doanh ngoại hối việc phân tách chức năng nhƣ đã trình bày trên là cách thức tổ chức để có thể kiểm soát rủi ro trong kinh doanh; (2) Kiểm toán quản lý điều tiết rủi ro trong kinh doanh để đảm bảo rằng cách thức quản lý rủi ro cũng nhƣ chi phí phòng ngừa rủi ro mà ngân hàng đã chi ra là thoả đáng, đặc biệt lƣu ý đến hệ thống hạn mức kinh doanh, giới hạn lỗ trong kinh doanh… Kiểm toán tiền mặt và tiền gửi ngân hàng nhà nƣớc: (1) Kiểm toán xem mọi khoản tiền có đƣợc đảm bảo thu đầy đủ vào ngân quỹ; (2) Kiểm toán xem tất cả các khoản chi đều đƣợc chi đúng với mục đích, đƣợc phê chuẩn và có sự ghi chép đúng đắn; (3) Kiểm toán xem số dƣ tiền quỹ hợp lý để đảm bảo chi trả cho nhu cầu rút tiền của khách hàng; (4) Kiểm toán xem số dƣ tiền tài khoản tiền mặt và tiền gửi ngân hàng có phải là số dƣ thực; (5) Kiểm toán giữa số dƣ thực tế (tại quỹ) với số dƣ tiền tài khoản.