CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Đề tài nghiên cứu về hoạt động kiểm soát nội bộ không phải là chủ đề mới trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại. Một số nghiên cứu nước ngoài như: Sultana (2011) được thực hiện trên 06 NHTM tư nhân tại Bangladesh với quan điểm đánh giá cơ cấu hệ thống KSNB trong một công ty là cần thiết để xác định khả năng đảm bảo hoạt động của công ty thực hiện phù hợp theo mục tiêu đề ra.
Nghiên cứu xây dựng mô hình đánh giá 5 thành phần của hệ thống KSNB tác động đến 2 mục tiêu kiểm soát: tính hiệu quả hoạt động NHTM, độ tin cậy của BCTC, tính tuân thủ yêu cầu pháp luật và quy định nội bộ. Kết quả khảo sát cho thấy 3/6 NHTM đạt được hầu hết mục tiêu kiểm soát ở mức trên trung bình và độ lệch chuẩn là thấp nhất. Phần lớn NHTM đạt được đánh giá trung bình với các thành phần của hệ thống KSNB. Một số ít NHTM thiếu thành phần của hệ thống KSNB.
Nghiên cứu có đưa khuyến nghị với những thành phần của hệ thống KSNB không hiệu quả, tuy nhiên chưa phân tích tìm ra mối quan hệ giữa thành phần của hệ thống KSNB với mục tiêu kiểm soát tại NHTM. Salehi (2013) thực hiện khảo sát thực tiễn tại các ngân hàng Iran, nhóm tác giả đã chỉ ra KSNB đóng một vai trò rất quan trọng và mang lại hiệu quả cho tổ chức. Qua nghiên cứu về hiệu quả của hệ thống KSNB trong ngành ngân hàng của Iran trong năm 2011, tham chiếu ngân hàng Mellat. Kết quả 4 nghiên cứu cho thấy, môi trường kiểm soát, quá trình đánh giá rủi ro và hoạt động kiểm soát kém hiệu quả làm nảy sinh các nhiều hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động ngân hàng.
Do đó, hệ thống KSNB tốt sẽ là công cụ ưu việt trong việc ngăn chặn tỷ lệ gian lận và sai sót, đảm bảo hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Iran. Gamage (2014) đã thực hiện việc kiểm tra tính chất và cấu trúc của hệ thống KSNB trong các NHTM Nhà nước; xác định mối quan hệ giữa các thành phần KSNB với hiệu quả của hệ thống KSNB trong NHTM Nhà nước; Điều tra các hành vi gian lận trong các NHTM Nhà nước; Xác định các yếu tố góp phần vào tỷ lệ mắc các hành vi gian lận trong NHTM Nhà nước và xác định các chiến lược có thể thực hiện để loại bỏ gian lận. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa đóng góp lớn cho các NHTM trong hoạt động KSNB, quản lý và bảo vệ tài sản của mình, phòng ngừa và phát hiện các hành vi gian lận, sai sót trong hoạt động của ngân hàng. Aristanti (2015) thông qua phân tích hồi quy đa biến, với biến độc lập là năm thành phần của hệ thống KSNB (môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, giám sát) và biến phụ thuộc là trách nhiệm giải trình tài chính tại các trường tiểu học ở Bandung, Indonesia.
Kết quả cho thấy, môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát và giám sát ảnh hưởng đáng kể đến trách nhiệm giải trình tài chính. Trong khi các đánh giá rủi ro, thông tin và thông tin truyền thông không ảnh hưởng đáng kể. Kết quả chỉ ra rằng, một hệ thống KSNB hiệu quả của các trường học có thể làm tăng chất lượng và trách nhiệm giải trình tài chính. Zipporah (2015) đo lường tác động của KSNB đến hiệu quả hoạt động tài chính của các doanh nghiệp tại Nairobi, Kenya.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các thành phần môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông của hệ thống KSNB có tác động tích cực đối với ROA, trong khi giám sát lại có tác động ngược chiều với ROA. 5 Ahmed và Malik (2015) nghiên cứu mối quan hệ giữa sự quản lý rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động cho vay: Bằng chứng thực nghiệm tại các ngân hàng ở Pakistan. Tương tự nhiên nghiên cứu của Mugenda & ctg (2012), Ahmed và Malik (2015) cũng thực hiện nghiên cứu sự tác động của các nhân tố: kỳ hạn tín dụng, kết quả đánh giá khách hàng, sự kiểm soát RRTD và chính sách tín dụng đến hiệu quả hoạt động cho vay. Ahmed và Malik (2015) tiến hành khảo sát 157 cán bộ quản lý tín dụng của hai ngân hàng Islamabad and Rawalpindi.
Thang đo Likert 5 mức được sử dụng để đo lường sự đánh giá của đối tượng được nghiên cứu. Phương pháp thống kê, mô tả, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn được sử dụng. Mô hình hồi quy bội được sử dụng để thể hiện mối quan hệ giữa hệ thống quản lý RRTD qua bốn nhân tố kỳ hạn tín dụng, kết quả đánh giá khách hàng, sự kiểm soát RRTD, chính sách tín dụng và hiệu quả hoạt động cho vay. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố trên đều có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động cho vay.
Akwaa Sekyi (2016) đã xem xét tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, khám phá nguy cơ vỡ nợ của các ngân hàng Tây Ban Nha do hệ thống kiểm soát nội bộ gây ra và thiết lập mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và rủi ro tín dụng. Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết về mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và rủi ro tín dụng giữa các ngân hàng niêm yết ở Tây Ban Nha trên cơ sở dữ liệu từ Bankscope và các trang web của công ty từ năm 2004-2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ đã được áp dụng nhưng tính hiệu quả của chúng không được đảm bảo. Điều này khiến các ngân hàng niêm yết ở Tây Ban Nha rơi vào tình huống vỡ nợ nghiêm trọng.
Kiểm soát nội bộ có tác động đáng kể đến rủi ro tín dụng, đặc biệt là môi trường kiểm soát, quản lý rủi ro, hoạt động kiểm soát và giám sát. Việc không tiết lộ những điểm yếu quan trọng của kiểm soát nội bộ là một yếu tố khiến hệ thống kiểm soát nội bộ kém hiệu quả. 6 Akwaa Sekyi cũng đã có một công trình nghiên cứu khác năm 2017 về mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và rủi ro tín dụng của các ngân hàng ở Châu Âu. Kết quả nghiên cứu tiếp tục khẳng định kiểm soát nội bộ có tác động đáng kể đến rủi ro tín dụng với các biến số cụ thể như đánh giá rủi ro, lợi nhuận trên tài sản có rủi ro trung bình, quyền sở hữu tổ chức, quy mô ngân hàng, lạm phát, lãi suất và GDP.
Nghiên cứu này cung cấp việc sử dụng phương pháp định lượng để đo lường các hiện tượng nhất định trong lĩnh vực kiểm soát nội bộ. Đồng thời, nghiên cứu này bổ sung vào nghiên cứu trước đây của cùng các tác giả và xác nhận vấn đề đại diện theo một cách tiếp cận khác. Hunziker (2017) tiến hành nghiên cứu tính hữu hiệu của KSNB qua khảo sát thực nghiệm tại các công ty phi tài chính Thụy Sỹ, với phương pháp SEM được sử dụng để thực hiện nghiên cứu. Tác giả đề xuất phương thức đo lường tính hữu hiệu của KSNB qua các nhân tố là: đạt được mục tiêu đặt ra của đơn vị - theo ba mục tiêu của COSO, tỷ lệ đầu vào và đầu ra – chi phí và thu nhập của KSNB, sự linh hoạt của tổ chức- khả năng điều chỉnh KSNB thích hợp khi có sự thay đổi của nội bộ và bên ngoài và hiệu quả của sự phối hợp – nhiệm vụ được thực hiện theo mục tiêu của đơn vị.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có bốn nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của KSNB là giảm sự phức tạp của cơ cấu tổ chức KSNB, năng lực, thông tin nội bộ và giám sát. Các công trình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, trước yêu cầu bức thiết của cơ quan quản lý, của thị trường, của nhà đầu tư về thông tin tài chính minh bạch đòi hỏi phải có quy định căn bản về hệ thống KSNB hoàn chỉnh làm cơ sở cho việc quản lý doanh nghiệp nói chung, NHTM nói riêng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính đã ban hành một loạt văn bản để dần hoàn thiện yêu cầu về hệ thống KSNB đối với NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Với định hướng quan trọng từ cơ quan quản lý thông qua các thông tư, quyết định đã ban 7 hành, nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát nội bộ trong đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng, đặc biệt đối với nghiệp vụ tín dụng là mảng hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng, càng cần được kiểm soát nội bộ trong từng khâu thực hiện để đảm bảo hiệu quả, an toàn hoạt động.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ về đề tài này có thể kể đến như: Lê Thị Hằng Nga (2013) đã khái quát được các lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ, các lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong NHTM, đồng thời trình bày được các nội dung kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại NHTM. Trên cơ sở đó, đã đi sâu vào thực trạng quy trình cho vay, các thủ tục kiểm soát trong quy trình tín dụng và công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và phát triển - Chi nhánh Hải Vân. Từ thực trạng đó tác giả đã trình bày những kết quả đạt được, một số vấn đề còn tồn tại: về việc thực hiện thủ tục kiểm soát như tính đầy đủ về hồ sơ vay vốn, kiểm tra việc thẩm định tín dụng và về việc tuân thủ quy trình kiểm soát. Từ đó, tác giả đã đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và phát triển - chi nhánh Hải Vân như hoàn thiện quy trình kiểm soát xét duyệt cho vay, thiết lập thủ tục kiểm soát độc lập với việc thực hiện quy trình… Nguyễn Thị Giang (2016) đã trình bày những lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ như khái niệm, mục tiêu, các nguyên tắc và yếu tố cơ bản.