CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ 1. Các quan niệm về kiểm toán nội bộ Cho đến nay có khá nhiều quan niệm khác nhau về kiểm toán nội bộ, chẳng hạn như: Theo Hiệp hội Kế toán công chứng Anh (ACCA), “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ để quản trị rủi ro một cách hiệu quả theo khẩu vị rủi ro của đơn vị”. Quan niệm này cho thấy đối tượng của kiểm toán nội bộ là toàn bộ hệ thống kiểm soát trong đơn vị, với vai trò là quản trị rủi ro.
Tháng 6/1999, Viện Kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ (IIA) đã cung cấp một định nghĩa khá toàn diện về loại hình nghề nghiệp này: “KTNB là hoạt động đảm bảo và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được thiết lập nhằm tạo ra giá trị gia tăng và cải thiện hoạt động của một tổ chức. KTNB giúp cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua việc tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống, có tính kỷ luật để đánh giá, nâng cao hiệu quả của quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình kiểm soát và việc quản lý rủi ro”. Có thể xem đây là một định nghĩa bản lề, then chốt mô tả đầy đủ được bản chất, phạm vị, mục tiêu của kiểm toán nội bộ, trong đó IIA đã làm rõ định nghĩa như sau: - “Độc lập: KTNB chỉ có thể tồn tại nếu được thực hiện độc lập. Các chức năng kiểm toán cần phải loại bỏ các yếu tố liên quan đến hoạt động kinh doanh để xem xét, đánh giá mới có thể mang lại kết quả như kì vọng.
- Đảm bảo và tư vấn: Kiểm toán nội bộ có thể đóng vai trò là người tư vấn và hỗ trợ cho hoạt động quản lý doanh nghiệp - Được thiết lập nhằm tạo giá trị gia tăng: KTNB hướng đến khách hàng và hiểu rõ nhu cầu của một tổ chức, hướng đến lợi ích của tổ chức hơn là những mục 6 tiêu của riêng mình. Việc làm gia tăng giá trị cho tổ chức luôn được đặt ra và thể hiện trong toàn bộ quá trình kiểm toán. - Cải thiện hoạt động của tổ chức: Đạt được điều này là do KTNB luôn tiến hành những cải tiến liên tục. Các KTV phải cố gắng để hoàn thành vai trò tư vấn chứ không chỉ là người điều tra và xử lý sai phạm.
Thậm chí, nếu trưởng kiểm toán không chứng minh được vai trò của KTNB đối với tổ chức thì cũng có rất ít lý do để duy trì dịch vụ này. - Giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình: Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ được thiết lập vững chắc xung quanh mục tiêu của tổ chức. - Cách tiếp cận có tính kỷ luật và tính hệ thống: Kiểm toán nội bộ có một hệ thống chuẩn mực chuyên nghiệp và có thể thực hiện công việc với chất lượng dịch vụ cao nhất. Là một hoạt động chuyên tư vấn và đảm bảo, các Trưởng kiểm toán phải xây dựng chính sách và quy trình để hướng dẫn hoạt động kiểm toán.
” - Đánh giá, nâng cao hiệu quả: Kiểm toán nội bộ tập trung vào việc cải thiện tổ chức và một phần quan trọng chính là đánh giá. Kiểm toán nội bộ sẽ sắp xếp các phát hiện trong quá trình kiểm toán để tiến hành đánh giá nhằm mục đích tiến tới một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt nhất. Nếu hoạt động kiểm tra, giám sát trong đơn vị chỉ dừng lại ở việc thực hiện một số câu hỏi, kiểm tra một số dữ liệu khiến kết quả không thuyết phục thì ngược lại kiểm toán nội bộ phải tiến hành đánh giá một cách chính thống để thực hiện các bước hỗ trợ và cải thiện hoạt động của tổ chức. - Hiệu quả: Hiệu quả là một khái niệm mấu chốt khi nhà quản lý xây dựng các mục tiêu và hệ thống kiểm soát nội bộ.
Sự phức tạp đằng sau khái niệm hiệu quả rất lớn, chính vì vậy khi đưa vấn đề này vào định nghĩa, thì tầm bao quát của kiểm toán nội bộ trở nên rất rộng”. Vai trò kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại Tháng 12/2011, NHNN đã ban hành Thông tư 44/2011/TT-NHNN “Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”, từng bước giúp các NHTM xây dựng và thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên Thông tư 44 còn mang tính 7 khái quát, chưa đưa ra được vai trò và sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng. Ngày 15/08/2018, NHNN tiếp tục ban hành Thông tư 13/2018/TT-NHNN “Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”, góp phần giải quyết những khó khăn trong việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ của các NHTM trong thời gian qua.
Khoản 3, điều 5 Thông tư 13 quy định: “Hệ thống kiểm soát nội bộ được quy định bao gồm ba tuyến bảo vệ độc lập nhằm kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro trong hoạt động ngân hàng như sau: - Tuyến bảo vệ thứ nhất có chức năng nhận dạng, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro do các bộ phận sau thực hiện: (i) Các bộ phận kinh doanh (bao gồm cả bộ phận phát triển sản phẩm), các bộ phận có chức năng tạo ra doanh thu khác; các bộ phận có chức năng thực hiện các quyết định có rủi ro; (ii) Các bộ phận có chức năng phân bổ hạn mức rủi ro, kiểm soát rủi ro, giảm thiểu rủi ro (thuộc bộ phận kinh doanh hoặc bộ phận độc lập) đối với từng loại hình giao dịch, hoạt động kinh doanh; (iii) Bộ phận nhân sự, bộ phận kế toán; - Tuyến bảo vệ thứ hai có chức năng xây dựng chính sách quản lý rủi ro, quy định nội bộ về quản trị rủi ro, đo lường, theo dõi rủi ro và tuân thủ quy định pháp luật do các bộ phận sau đây thực hiện: Bộ phận tuân thủ và Bộ phận quản lý rủi ro. - Tuyến bảo vệ thứ ba có chức năng kiểm toán nội bộ do bộ phận kiểm toán nội bộ thực hiện”. Như vậy, vai trò của KTNB là tuyến bảo vệ thứ ba trong hệ thống Kiểm soát nội bộ tại các NHTM. Nguyên tắc đạo đức và ứng xử của kiểm toán nội bộ Nhằm đạt được mục tiêu: “giúp cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua việc tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống, có tính kỷ luật để đánh giá, nâng cao hiệu quả của quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình kiểm soát và việc quản lý rủi ro”, Phụ lục II Thông tư số 8/2021/TT-BTC ngày 25/01/2021 đã ban hành các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán nội bộ như sau: 8 “1.
Người làm công tác kiểm toán nội bộ được kỳ vọng sẽ áp dụng và giữ vững các nguyên tắc đạo đức sau: a. Tính chính trực - Tính chính trực của người làm công tác kiểm toán nội bộ thiết lập sự tin tưởng và tạo ra cơ sở cho độ tin cậy đối với các xét đoán của họ. - Người làm công tác kiểm toán nội bộ phải thực hiện các công việc chuyên môn với sự trung thực, tính cẩn trọng và tinh thần trách nhiệm; tuân thủ các quy định pháp luật và công bố các thông tin cần thiết theo yêu cầu của pháp luật và yêu cầu chuyên môn của kiểm toán nội bộ; không tham gia các hoạt động phi pháp hay tham gia các hoạt động làm tổn hại đến uy tín của nghề nghiệp, uy tín của đơn vị. Tính khách quan - Người làm công tác kiểm toán nội bộ phải đảm bảo khách quan, chính xác, trung thực, công bằng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.
Người làm công tác kiểm toán nội bộ thể hiện mức độ cao nhất về tính khách quan chuyên môn trong việc thu thập, đánh giá và trao đổi thông tin về các hoạt động và quy trình được kiểm tra. Người làm công tác kiểm toán nội bộ đưa ra những đánh giá khách quan về tất cả các tình huống thích hợp và không bị tác động bởi lợi ích cá nhân của chính mình hoặc của những người khác trong việc đưa ra các xét đoán và kết luận của mình. Tính bảo mật - Người làm công tác kiểm toán nội bộ tôn trọng các giá trị và quyền sở hữu thông tin được cung cấp và không tiết lộ các thông tin này nếu không được phép của các cấp có thẩm quyền trừ khi việc tiết lộ thông tin thuộc trách nhiệm chuyên môn hoặc theo yêu cầu của luật pháp. Năng lực chuyên môn và tính thận trọng - Người làm công tác kiểm toán nội bộ áp dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn trong việc cung cấp các dịch vụ và các hoạt động kiểm toán nội bộ.
Đồng thời hành động một cách thận trọng, phù hợp với các chuẩn mực nghề nghiệp và kỹ thuật được áp dụng. Tư cách nghề nghiệp - Người làm công tác kiểm toán nội bộ phải tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan, tránh bất kỳ hành động nào làm giảm uy tín nghề nghiệp của mình. Người phụ trách kiểm toán nội bộ ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp quy định tại khoản 1 Phụ lục II - Phần các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán nội bộ còn phải có biện pháp theo dõi, đánh giá, quản lý nhằm đảm bảo người làm công tác kiểm toán nội bộ tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán nội bộ. Các quy định thực hành: a.
Tính chính trực Người làm công tác kiểm toán nội bộ cần: - Thực hiện các công việc chuyên môn với sự trung thực, tính cẩn trọng và tinh thần trách nhiệm. - Tuân thủ các quy định pháp luật và công bố các thông tin cần thiết theo yêu cầu của pháp luật và yêu cầu chuyên môn của kiểm toán nội bộ. - Không tham gia các hoạt động phi pháp hay các hoạt động làm mất uy tín về nghề nghiệp kiểm toán nội bộ hoặc của đơn vị/tổ chức. - Tôn trọng và đóng góp vào các mục đích chính đáng và đúng với đạo lý của đơn vị/tổ chức.
Tính khách quan Người làm công tác kiểm toán nội bộ: - Không tham gia vào các hoạt động hoặc mối quan hệ có thể làm suy giảm hoặc được cho là làm suy giảm các đánh giá khách quan của người làm công tác kiểm toán nội bộ.