chương 1, tác giả đã trình bày mục tiêu và lý do thực hiện đề tài nghiên cứu, dựa vào đó đưa ra những phương pháp, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài. Phương pháp nghiên cứu của đề tài tác giả sử dụng phương pháp tình huống, phương pháp tổng hợp và phân tích xử lý dữ liệu, phương pháp thu thập dữ liệu qua đó gíup dữ liệu của bài nghiên cứu được đa dạng và đáng tin cậy hơn cho người đọc. Phạm vi nghiên cứu và thời gian nghiên cứu được thực hiện cụ thể tại công ty khách hàng do tác giả được tham gia trực tiếp vào quy trình kiểm toán. 5 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 2. Các nghiên cứu trên thế giới Tác giả đã tham khảo qua một số bài nghiên cứu nước ngoài và nhận thấy rằng các bài nghiên cứu phân tích ở nhiều phạm vi, khía cạnh, loại hình doanh nghiệp tại các thời điểm khác nhau với số lượng mẫu và biến sử dụng tương đối đa dạng và phong phú. Nổi bật có thể kể đến ba (03) công trình nghiên cứu sau: Bài nghiên cứu Messier Jr. The Use of Data Analytics in Auditing Accounts Receivable.
Auditing: A Journal of Practice & Theory, 33(2), 277-300. là một trong những bài nghiên cứu nước ngoài sử dụng phương pháp định lượng về đề tài quy trình kiểm toán khoản mục NPT. Bài nghiên cứu này đã sử dụng dữ liệu từ hơn 1.000 công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ để kiểm tra tác động của phân tích dữ liệu đối với quy trình kiểm toán khoản mục NPT. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng phân tích dữ liệu có tác động tích cực đến hiệu quả kiểm toán khoản mục nợ phải thu.
Cụ thể, các công ty sử dụng phân tích dữ liệu trong quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu có hiệu quả kiểm toán cao hơn các công ty không sử dụng phân tích dữ liệu. Tuy nhiên bài nghiên cứu vẫn còn những hạn chế nhất định, đó là chỉ sử dụng dữ liệu từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, nên kết quả nghiên cứu có thể không áp dụng cho các loại hình công ty ở các thị trường khác nhau và nghiên cứu chỉ xem xét tác động của phân tích dữ liệu đối với hiệu quả kiểm toán tổng thể, không xem xét tác động của phân tích dữ liệu đối với từng thủ tục kiểm toán cụ thể. Bài nghiên cứu "Simsek, U. An empirical investigation of the determinants of accounts receivable management in the manufacturing sector.
Journal of Applied Accounting Research, 21(4), 233-250." Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách quản lý khoản phải thu trong ngành sản xuất và đánh giá tác động của việc quản lý khoản phải thu đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu bảng điểm từ 138 công ty sản xuất niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán 6 Istanbul trong giai đoạn 2008-2017, nghiên cứu đã chỉ ra rằng quy mô công ty, tỷ lệ lợi nhuận và điều kiện kinh tế vĩ mô là những yếu tố chính ảnh hưởng đến chính sách quản lý khoản phải thu. Kết quả cho thấy doanh nghiệp lớn và có lợi nhuận cao có xu hướng quản lý khoản phải thu chặt chẽ hơn so với doanh nghiệp nhỏ và có lợi nhuận thấp. Ngoài ra, tỷ lệ thất nghiệp cao và lãi suất cao dẫn đến chính sách quản lý khoản phải thu chặt chẽ hơn.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quản lý khoản phải thu hiệu quả có thể dẫn đến doanh thu cao hơn, lợi nhuận cao hơn và dòng tiền hoạt động mạnh hơn cho DN sản xuất. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng có một số hạn chế, bao gồm chỉ tập trung vào các DN có hình thức kinh doanh sản xuất được niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Istanbul, sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 2008-2017 và không xem xét các yếu tố định tính có thể ảnh hưởng đến chính sách quản lý khoản phải thu. Nhìn chung, nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách quản lý khoản phải thu trong ngành sản xuất và tác động của việc quản lý khoản phải thu đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Auditing accounts receivable and allowance for doubtful accounts at Cardinal Corporation.
The North American Accounting Studies , 3(1), 4. Nghiên cứu của Lureau (2020) sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp để phân tích quy trình kiểm toán khoản phải thu tại Cardinal Corporation, một công ty sản xuất. Dữ liệu sử dụng trong bài nghiên cứu được thu thập từ BCTC, hồ sơ kiểm toán và phỏng vấn, tác giả mô tả chi tiết các bước kiểm tra, đánh giá rủi ro và lập dự phòng cho NPT khó đòi trong quy trình kiểm toán của Cardinal Corporation. Nghiên cứu cũng xác định một số vấn đề và thách thức trong quá trình kiểm toán khoản phải thu của Cardinal Corporation.
Đầu tiên là, khó khăn trong việc thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và chính xác do tính chất phức tạp và nhạy cảm của khoản phải thu. Thứ hai là, rủi ro cao nợ khó đòi do tính chất kinh doanh của công ty, dẫn đến việc cần trích lập dự phòng nợ khó đòi ở mức cao. Và cuối cùng, thiếu hụt nguồn nhân lực kiểm toán, dẫn đến việc KTV không thể dành đủ thời gian và công sức để kiểm tra chi tiết các giao dịch trong khoản phải thu. Để giải quyết những vấn đề còn tồn đọng này tại DN, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm cải thiện quy trình kiểm toán của khoản phải thu tại Cardinal Corporation, ứng dụng các thủ tục kiểm 7 toán bằng cách sử dụng các kỹ thuật máy tính như một công cụ để phục vụ cho công việc kiểm toán (CAATs) như tự động hóa các công việc kiểm toán đơn giản, giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho KTV, tăng cường đào tạo cho nhân viên kiểm toán về các kỹ thuật kiểm toán các khoản phải thu và kiến thức về ngành sản xuất, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa bộ phận kiểm toán và bộ phận kế toán để đảm bảo thông tin kiểm toán được đầy đủ và chính xác.
Nghiên cứu của Lureau (2020) cung cấp nguồn thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu, KTV và quản lý doanh nghiệp trong lĩnh vực kiểm toán khoản phải thu. Nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của việc áp dụng các kỹ thuật kiểm toán phù hợp và hiệu quả để đảm bảo tính chính xác, hợp lý và đáng tin cậy của thông tin kiểm toán khoản phải thu. Nghiên cứu trong nước Để có cái nhìn bao quát nhất về các khóa luận trong nước tác giả sẽ thu thập (03) bài nghiên cứu khác nhau làm nền tảng khách quan nhất đối với đề tài đang thực hiện, bao gồm: Trong bài báo cáo của Huyền, N. “Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm toán khoản mục NPT tại các DN niêm yết tại Việt Nam.” Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Mở Hà Nội, Số 12, tr.
Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với nguồn dữ liệu được thu thập từ BCTC các DN đã niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam giai đoạn 2016- 2020. Loại dữ liệu được thu thập bao gồm dữ liệu thống kê từ các BCTC của các DN niêm yết và dữ liệu từ các cuộc khảo sát được thực hiện với các chuyên gia kiểm toán. Trong bài báo cáo của Huyền, N. (2021), nghiên cứu xoay quanh các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của quy trình kiểm toán khoản mục NPT tại các DN đã niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
Giai đoạn thu thập dữ liệu được thực hiện qua hai bước chính. Đầu tiên, dữ liệu từ các BCTC được thu thập và phân tích nhằm đánh giá hiệu quả của quy trình kiểm toán NPT. Tiếp theo, các cuộc khảo sát được thực hiện với các chuyên gia kiểm toán để thu thập ý kiến và đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả của quy trình kiểm toán. Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố như chất lượng quản lý NPT, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, và mức độ đáng tin cậy của thông tin 8 tài chính đến hiệu quả của quy trình kiểm toán.
Tuy nhiên, trong quá trình phân tích, có một số hạn chế và vấn đề chưa được giải quyết đã được đề cập. Đầu tiên, bài báo chỉ tập trung vào các DN niêm yết, điều này có thể hạn chế tính tổng quát của kết quả nghiên cứu. Việc chỉ tập trung vào một phân khúc nhất định trong thị trường DN có thể làm mất đi tính đa dạng và không phản ánh đầy đủ trong tình hình thực tế của quy trình kiểm toán NPT ở các loại hình DN khác nhau. Thứ hai, mặc dù nghiên cứu đã xác định các yếu tố đang ảnh hưởng đến hiệu quả của quy trình kiểm toán, nhưng không có sự thảo luận về việc ứng dụng các thủ tục kiểm toán bằng cách sử dụng công nghệ thông và các kỹ thuật máy tính như một công cụ vào quy trình để cải thiện công việc.
Điều này có thể là một hạn chế lớn vì công nghệ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả và hiệu suất của quy trình kiểm toán. Cuối cùng, vấn đề chưa được giải quyết là việc không xác định cách tiếp cận và xử lý các yếu tố ảnh hưởng để tối ưu hóa hiệu quả của quy trình kiểm toán. Mặc dù đã phân tích và đánh giá các yếu tố này, nhưng không có sự thảo luận về cách giải quyết vấn đề và thực hiện biện pháp một cách cụ thể để cải thiện quy trình kiểm toán NPT. Tóm lại, các hạn chế và vấn đề chưa được giải quyết này cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo để tối ưu hóa và nâng cao chất lượng của quy trình kiểm toán NPT trong các DN niêm yết tại Việt Nam.
Để có được bức tranh toàn diện hơn, cần nghiên cứu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm toán khoản mục NPT tại các DN không niêm yết. Nghiên cứu của Đỗ, V. “Quy trình kiểm toán NPT của khách hàng trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH kiểm toán An Việt thực hiện.” đã mô tả chi tiết quy trình kiểm toán NPT của khách hàng trong giai đoạn kiểm toán BCTC do Công ty TNHH kiểm toán An Việt thực hiện.