Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát thuế GTGT tại Cục Thuế. 3 Chương 2: Thực trạng kiểm soát thuế GTGT do Cục Thuế TP Đà Nẵng thực hiện. Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao tính hữu hiệu của công tác kiểm soát thuế GTGT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng 5. Tổng quan tài liệu Đã có không ít đề tài nghiên cứu về thuế GTGT nói riêng.
Các đề tài của các tác giả tuy nghiên cứu kiểm soát thuế tại các địa bàn khác nhau, các cấp khác nhau nhưng đều có điểm chung là nêu ra được thực trạng tình hình quản lý thuế tại địa bàn của mình như: những điểm yếu, điểm mạnh, những điều còn hạn chế.từ đó đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hơn hoạt động quản lý thuế. Tuy những giải pháp đó có thể chưa thật sự giải quyết được những vần đề còn bất cập trong quản lý thuế, tuy nhiên đã phần nào cho thấy sự quan tâm, trăn trở của các tác giả trong việc tìm giải pháp để giải quyết vấn đề. - Tác giả Võ Phan Hoàng Linh (2018) với đề tài: “Hoàn thiện hoạt động quản lý thuế GTGT tại Chu cục thuế quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”, đã phản ánh thực trạng tình hình quản lý thuế GTGT tại CCT quận Cẩm Lệ, những kết quả đạt được, hạn chế cũng như những nguyên nhân. Từ đó, tác giả đã đưa ra giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thuế GTGT.Có 8 khuyến nghị được tác giả đưa ra đối với CCT quận Cẩm Lệ như: Tăng cường quản lý hoạt động đăng ký, kê khai thuế, nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, KH hóa hoạt động QLNO.Tác giả đã tổng quát được cơ bản những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động quản lý thuế GTGT tại CCT quận Cẩm Lệ.
- Phạm Thị Hồng Nhung (2017) với đề tài: “Hoàn thiện hoạt động quản lý thuế GTGT tại CCT thành phố Quy Nhơn” đã khái quát tổng quan được cơ sở lý luận của thuế GTGT, trong đó có một số mô hình tổ chức hoạt động quản lý thu GTGT như: quản lý theo sắc thuế, nhóm NNT, theo chức 4 năng.nhưng tác giả chưa nói được mô hình nào được ứng dựng tại CCT thành phố Quy Nhơn. Tác giả cũng đưa ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân để từ đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện thuế GTGT.Các giải pháp tác giả đưa ra có tính khả thi cao và đầy đủ. - Đồng Thị Mỹ Dung (2015) với luận văn “ Quản lý thuế GTGT tại Cục thuế thành phố Đà Nẵng” đã khái quát được những lý luận cơ bản về thuế GTGT tại Cục thuế Đà Nẵng, nêu được thực trạng trong quản lý thuế GTGT từ đó đưa ra các giải pháp. Những giải pháp, khuyến nghị của tác giả góp phần hoàn thiện hoạt động quản lý thuế GTGT tại Cục thuế Đà Nẵng nói chung cũng như các CCT thuộc các quận, huyện nói riêng.
Tuy nhiên, tác giả chỉ nêu được những hạn chế, những vấn đề còn bất cập trong các Phòng thuộc Cục thuế mà không nêu được những bất cập trong các CCT thuốc Cục thuế. Vì cơ cấu tổ chức, mô hình của Cục thuế khác so CCT thuộc các quận, huyện. - Tất cả các nghiên cứu trên, các tác giả đều đã đánh giá được thực trạng và kết quả của hoạt động kiểm soát thuế, từ đó đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm soát thuế tại Cơ quan thuế mà tác giả khảo sát. Tuy nhiên, tùy vào đặc điểm kinh tế và hoạt động kiểm soát thuế mỗi nơi, cũng như tùy vào từng giai đoạn phát triển kinh tế mà Hoạt động kiểm soát thuế GTGT đạt được những kết quả cũng như còn tồn tại những hạn chế khác nhau, từ đó sẽ đề xuất những giải pháp khác nhau, phù hợp cho hoạt động quản lý thuế GTGT tại mỗi địa bàn (chủ yếu tại Thành phố Đà Nẵng) trong từng giai đoạn.
Khoảng trống nghiên cứu: Thuế GTGT ngày càng chiếm tỷ lệ cao và quan trọng nhất trong các sắc thuế. Theo số liệu của Cục quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ KH và Đầu tư), trung bình một ngày có hơn 300 DN mới ra đời. Cho thấy ngày càng có nhiều DN được thành lập mới và thuế GTGT sẽ ngày càng tăng lên. Trong những 5 năm gần đây đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về kiểm soát thuế GTGT.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về kiểm soát thuế GTGT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng. Trong khi đó, việc chống thất thu đang làm một trong những nhiệm vụ trong tâm trong công tác quản lý thu tại Đà Nẵng. Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, các văn bản pháp luật, luật thuế GTGT, luật quản lý thuế và kế thừa các nghiên cứu trên đây, tác giả có những cơ sở để đánh giá thực trạng hoạt động kiểm soát thuế GTGT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp mang tính thực tiễn nhằm giúp hoàn thiện hơn nữa hoạt động quản lý thuế GTGT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THUẾ GTGT 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ GTGT 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuếGTGT a. Khái niệm Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trực tiếp vòa doanh thu qua nhiều giai đoạn từ khâu sản xuất đến khâu lưu thông hàng hóa; từ những nguyên liệu đầu vào đến khi cấu thành sản phẩm và đến tay người tiêu dùng. Do đó nó còn một tên gọi khác là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã được nộp ở giai đoạn trước. Người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng nên nó được tính trực tiếp vào giá bán hàng hóa.
“Thuế GTGT là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ” (Quốc hội, Luật thuế GTGT 2008, 2008). Đặc điểm của thuế GTGT + Thuế GTGT là một loại thuế gián thu:Người nộp thuế GTGT là người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng; thuế GTGT được tính trên GTGT của hàng hóa, dịch vụ và được thu vào khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. + Thuế GTGT là thuế tiêu dùng qua nhiều giai đoạn không trùng lắp: Thuế GTGT không tính trùng phần giá trị gia tăng đã tính thuế ở giai đoạn luân chuyển trước khi tính thuế GTGT của giai đoạn sau. Nguyên nhân thuế GTGT chỉ tính trên giá trị gia tăng của mỗi giai đoạn luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ.
+ Thuế GTGT là sắc thuế có tính lũy thoái so với thu nhập: người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nên khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì tỷ lệ thuế giá trị gia tăng phải trả trong giá mua so với thu 7 nhập của họ giảm đi vì thuế GTGT tính trên giá bán của hàng hóa, dịch vụ; do đó có thể nói thuế GTGT là sắc thuế không công bằng + Thuế GTGT thường được đánh theo nguyên tắc điểm đến: do thuế GTGT không dựa trên xuất xứ hang hóa mà căn cứ vào thân phận cư trú của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. + Thuế GTGT có phạm vi điều tiết rộng c. Vai trò của thuếGTGT Thuế là nguồn thu của NSNN trong đó thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu từ thuế, mặc khác, thuế GTGT là một loại thuế có độ bao phủ rộng nên là một công cụ hữu hiệu trong điều tiết kinh tế vĩ mô, thuế GTGT ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước. Nhà nước có thể điều tiết các lĩnh vực như: giải quyết công bằng xã hội, phân phối lại thu nhập, điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh, … 1.
Các yếu tố cơ bản về thuế GTGT a. Đối tượng chịu Thuế GTGT và đối tượng nộp thuế GTGT Đối tượng chịu thuế GTGT (GTGT) là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC. Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế bao gồm giá tính thuế và thuế suất. 8 - Giá tính thuế được quy định theo Điều 7 của luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT: “Nguyên tắc chung xác định giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hóa nhập khẩu (bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng).
Đối với HHDV do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), cộng thuế bảo vệ môi trường (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu; Đối với HHDV đã được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì giá tính thuế được xác định theo công thức sau: Giá chưa có thuế GTGT = Giá thanh toán/(1+ thuế suất của HHDV) - Thuế suất Theo điều 8 Luật thuế GTGT hiện hành có ba mức thuế suất là 0%, 5%, 10%.” (theo Quốc hội, Luật thuế GTGT 2008, năm 2008) + Phương pháp tính Thuế GTGT - Phương pháp khấu trừ: đối với những doanh nghiệp có khả năng thục hiện đầy đủ chứng từ kế toán, hóa đơn theo quy định hiện hành là những đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ.
Bao gồm: 9 + Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh + Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh.