CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ.Khái niệm và đặc điểm của tập trung kinh tế.Khái niệm tập trung kinh tế. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung tư bản, hình thành các xí nghiệp có quy mô lớn. Như vậy, TTKT là một xu hướng tất yếu của tư bản. Lịch sử phát triển của kinh tế thị trường cho thấy hiện tượng TTKT xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ vào nửa đầu thập kỷ 1980 đã diễn ra hàng loạt các vụ hợp nhất bắt đầu từ công ty hoạt động trong ngành công nghiệp, sau đó lan sang toàn bộ nền kinh tế và cuối cùng tràn ra toàn thế giới.
Ngày nay, cùng với môi trường pháp lý thông thoáng, các doanh nghiệp được phép thực hiện các hành vi TTKT dựa trên những nguyên tắc cơ bản của pháp luật thương mại thừa nhận, do đó mà các biện pháp nâng cao năng lực kinh doanh thông qua sáp nhập, hợp nhất, mua lại… vẫn đang được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để cơ cấu, tổ chức lại kinh doanh bởi những nguyên nhân cơ bản sau: • Nguyên nhân kinh tế: Một là, do sức ép của cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt chính vì vậy các doanh nghiệp có trong tay nhiều phương tiện, nguồn lực kinh tế sẽ có lợi thế hơn so với các đối thủ còn lại. Vì thế, các nhà kinh doanh chỉ có thể tìm mọi cách với thời gian ngắn nhất để có vị trí cạnh tranh tối ưu trên thị trường hoặc là các doanh nghiệp đang yếu thế tập hợp thành liên minh nhằm tìm kiếm cơ hội tồn tại trước các đối thủ lớn hơn đang chèn ép họ. Kết quả của cả hai trường hợp trên đều là các doanh nghiệp đang từ đối đầu trở thành những đơn vị liên kết, không cạnh tranh nữa. Như vậy, sự TTKT bắt nguồn từ cạnh tranh nhưng kết quả lại tiêu diệt cạnh tranh.
Hai là, do sức ép của khủng hoảng kinh tế. Lịch sử đã chứng minh rằng, khi xảy ra khủng hoảng thì một trong những giải pháp đối với các doanh nghiệp là tập trung lại để nương tựa vào nhau mong tìm kiếm cơ hội tồn tại[22]. Đồng thời, trong trường hợp, khủng hoảng kinh tế làm cho một số doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì tập trung kinh tế khi đấy lại đóng vai trò vô cùng quan trọng như phao 5 SV: Đặng Ngọc Huyền Lớp: LKT11-01 cứu sinh giúp doanh nghiệp tránh phải rút khỏi thị trường và tránh các hậu quả xấu về kinh tế xã hội. Ba là, do nhu cầu phát triển kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật luôn là nguyên nhân thúc đẩy hợp tác kinh doanh.Thực tế cho thấy có một số ngành kinh doanh khi tham gia kinh doanh và thu lợi nhuận thì nhà đầu tư cần có số vốn đáng kể trong khi khả năng của mỗi doanh nhân về vốn là hạn chế, đồng thời việc phát triển thị trường sẽ nảy sinh nhiều nhu cầu nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ - kỹ thuật vượt quá khả năng của một doanh nghiệp.
Môt trong những cách giải quyết là tập trung các nguồn lực giữa họ lại với nhau bằng phương thức sáp nhập, hợp nhất, liên doanh. • Nguyên nhân pháp lý Pháp luật doanh nghiệp của tất cả các quốc gia đều trao cho doanh nghiệp quyền thay đổi quy mô theo nhu cầu kinh doanh. Trên cơ sở đó, các biện pháp tổ chức lại như sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh…được ghi nhận như là biện pháp căn bản để doanh nghiệp năng động thích ứng với sự biến động của thị trường, phù hợp với năng lực kinh doanh của mình. Đây là một biểu hiện của quyền tự do kinh doanh, một trong những quyền cơ bản được quy định trong Hiến pháp và pháp luật.
Ở Việt Nam hình thức TTKT xuất hiện đầu tiên là các tổng công ty Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 90 và 91/ttg của Thủ tướng Chính phủ ngày 7/3/1994 (gọi tắt là tổng công ty 90 và 91). Thực chất việc thành lập tổng công ty 90 và 91 là sự liên minh sáp nhập theo thể thức hành chính chứ không mang bản chất của hành vi TTKT theo hệ thống pháp luật cạnh tranh. Cho đến khi Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995 đã xuất hiện các vụ sáp nhập, hợp nhất, liên doanh…Trước khi có Luật Cạnh tranh 2004 nước ta đã giảm từ 13000 doanh nghiệp Nhà nước xuống còn 3000 doanh nghiệp thông qua việc hợp nhất.[19] TTKT ngày càng phổ biến trong nền kinh tế thị trường, khái niệm TTKT được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau trong khoa học kinh tế và khoa học pháp lý. Trong khoa học kinh tế, TTKT được nhìn nhận là chiến lược tích tụ vốn và tập trung sản xuất hình thành các chủ thể kinh doanh có quy mô lớn nhằm khai thác lợi thế nhờ quy mô.
Theo cách tiếp cận này, TTKT dẫn đến việc giảm số lượng các 6 SV: Đặng Ngọc Huyền Lớp: LKT11-01 doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường thông qua các hành vi sáp nhập hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất[12]. TTKT được phân tích dưới góc độ nguyên nhân và hậu quả đối với thị trường cạnh tranh. Theo đó thì tập trung kinh tế được coi là kết quả của quá trình tích tụ tư bản Dưới góc độ pháp lý, tập trung kinh tế được pháp luật nhiều nước hướng vào việc xác định các dấu hiệu cũng như cách thức thực hiện tập trung kinh tế mà không đưa ra quy định giải thích tập trung kinh tế là gì. Điều 3 Quy chế 139/2004 được Ủy ban Châu Âu ban hành ngày 20/01/2004 định nghĩa về hoạt động tập trung kinh tế: “đó là những hoạt động sáp nhập, hợp nhất và các hình thức mà qua đó một hoặc nhiều doanh nghiệp làm thay đổi lâu dài cơ cấu quyền kiểm soát của toàn bộ hoặc một số phần của một hoặc nhiều doanh nghiệp khác” [21] Theo bộ luật thương mại của Pháp thì tập trung kinh tế được thực hiện trong các trường hợp: 1.
Khi một hoặc nhiều người đã nắm quyền kiểm soát ít nhất một doanh nghiệp hoặc khi một hoặc nhiều doanh nghiệp có được quyền kiểm soát đối với toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp khác trực tiếp hoặc gián tiếp bằng cách góp vốn mua cổ phần, giao kết hợp đồng hoặc một hình thức khác; 2. Việc thành lập một doanh nghiệp chung thực hiện một cách ổn định mọi chức năng của một thực thể kinh tế độc lập cấu thành một trường hợp tập trung kinh tế theo quy định của điều này ; Theo Luật hạn chế cạnh tranh Đức (năm 1957), TTKT được thực hiện thông qua các hình thức như mua lại toàn bộ hoặc một phần lớn tài sản của doanh nghiệp khác (mua cổ phần và quyển bỏ phiếu của doanh nghiệp để chiếm 25% tới 50% cổ phẩn) để có được quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc từng phần của một hoặc nhiều doanh nghiệp khác hoặc các hình thức liên kết khác giữa các doanh nghiệp để tạo ra sự chi phối của một hoặc một số doanh nghiệp[20]. Theo luật này, cũng được coi là TTKT khi các doanh nghiệp liên kết mà có ít nhất nửa số thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc trong các doanh nghiệp trùng nhau. Theo đó, TTKT ở Việt Nam nhìn chung giống các hình thức TTKT theo pháp luật của các nước trên thế giới và được xem xét theo ba cách tiếp cận cơ bản sau: 7 SV: Đặng Ngọc Huyền Lớp: LKT11-01 Một là, với tính chất là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, TTKT được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất.
Quan điểm này dường như đã coi tích tụ tư bản là một phần của TTKT. Hai là, với tính chất là hành vi của các doanh nghiệp, TTKT (còn gọi là tích tụ tư bản) được hiểu là sự gia tăng tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác. Khái niệm này không đưa ra biểu hiện cụ thể TTKT nhưng lại cho thấy bản chất và phương thức của hiện tượng. Ba là, dưới góc độ pháp luật, Luật Cạnh tranh 2004 quy định các hành vi bị coi là TTKT.
Theo đó, Khoản 3, Điều 3 quy định TTKT thuộc nhóm các hành vi hạn chế cạnh tranh. Chỉ có các trường hợp TTKT tạo ra trên 50% thị phần kết hợp trên thị trường liên quan mới tiềm ẩn nguy cơ hạn chế cạnh tranh. Pháp luật Việt Nam cũng không đưa ra khái niềm mang tính khái quát để định nghĩa về TTKT mà chỉ liệt kê các hình thức TTKT. Theo Điều 16 và 17 Luật Cạnh tranh Việt Nam 2004 thì “ tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm các hình thức sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.Đặc điểm của tập trung kinh tế.
Nhận thấy, tuy khái niệm TTKT tại các quốc gia khác nhau là khác nhau nhưng chúng cũng mang những dấu hiệu chung cơ bản, và mỗi một quốc gia có những điều kiện riêng biệt để kiểm soát hành vi này. Hiện tượng TTKT tuy được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và diễn tả bằng các ngôn ngữ pháp lý khác nhau, song TTKT vẫn mang những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi TTKT là các doanh nghiệp. Sở dĩ TTKT mang đăc điểm này vì mục đích của hành vi TTKT là nhằm tăng cường năng lực kinh tế của doanh nghiệp, bắt nguồn từ chính nhu cầu thực tế của doanh nghiệp muốn thay đổi quy mô để thích ứng với thị trường chứ không phải do sự áp đặt của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Tuy nhiên, tùy vào từng hình thức TTKT mà có các quy định khác nhau về chủ thể tham gia.