Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Một số vấn đề pháp lý về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam" do sinh viên Đặng Ngọc Huyền (lớp LKT11-01, Khoa Luật – Viện Đại học Mở Hà Nội) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đoàn Trung Kiên. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, tập trung vào lĩnh vực pháp luật cạnh tranh.
Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định xuất phát từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hoạt động tập trung kinh tế (TTKT) thông qua các hình thức sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh gia tăng nhanh chóng về cả quy mô lẫn số lượng. TTKT đóng vai trò tích cực trong việc tái cơ cấu doanh nghiệp, nâng cao năng lực tài chính, đầu tư đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, hành vi này cũng tiềm ẩn nguy cơ làm thay đổi cấu trúc thị trường, tạo ra các thực thể có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền, hạn chế cạnh tranh và gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Dù Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2005), việc áp dụng các quy định kiểm soát TTKT trên thực tế còn bộc lộ nhiều điểm bất cập.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đánh giá một cách hệ thống các quy định pháp luật về kiểm soát TTKT theo Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004, phản ánh thực trạng diễn biến TTKT cùng công tác quản lý nhà nước giai đoạn 2009–2014, từ đó chỉ ra những hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những nội dung lý luận cơ bản về TTKT và kiểm soát TTKT dưới góc độ kinh tế và pháp lý;
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động kiểm soát TTKT tại Việt Nam nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến thực trạng thông qua tình hình và số liệu thực tế;
- Xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh về kiểm soát TTKT.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề pháp lý cơ bản về kiểm soát TTKT theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, bao gồm khái niệm, đặc điểm, hình thức, tiêu chí kiểm soát, trình tự thủ tục tố tụng và chế tài xử lý vi phạm, có sự liên hệ so sánh với pháp luật quốc tế. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian tập trung vào giai đoạn 5 năm (từ năm 2009 đến năm 2014); phạm vi không gian là hệ thống pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với một số quốc gia trên thế giới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp: phân tích quy phạm pháp luật, tổng hợp lý luận, so sánh luật học, chứng minh và thống kê số liệu thực tiễn.
Cơ sở lý luận và các trường phái tiếp cận được tác giả viện dẫn bao gồm:
- Lý thuyết về sự cần thiết kiểm soát độc quyền và cạnh tranh: Quan điểm tự do kinh tế (laissez-faire), quan điểm can thiệp cấu trúc (structural approach), quan điểm giám sát điều tiết (regulation approach), quan điểm công hữu hóa (ownership approach), và lý thuyết của trường phái Chicago về kiểm soát độc quyền.
- Khung pháp lý quốc tế: Đạo luật Sherman (1890), Đạo luật Clayton (1914), Đạo luật Ủy ban Thương mại Liên bang (1914), Đạo luật Robinson-Patman (1936), Đạo luật Wheeler-Lea, Đạo luật Celler-Kefauver của Hoa Kỳ; Quy chế số 139/2004 của Ủy ban Châu Âu (EC); Bộ luật Thương mại Pháp; Luật Chống hạn chế cạnh tranh của CHLB Đức (1957); hệ thống pháp luật cạnh tranh của Vương quốc Anh (Luật năm 1948, 1973, 1976, 1980, 1998).
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Cạnh tranh năm 2004; Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh; Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/09/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh; Luật Doanh nghiệp năm 1999 và 2015; Luật Thương mại năm 1997; Quyết định số 90/TTg và 91/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 2327/QĐ-TTg ngày 22/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ.
Nguồn dữ liệu thực tế phục vụ nghiên cứu được thu thập từ báo cáo thống kê của Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương), cơ sở dữ liệu StoxPlus, ấn phẩm Tạp chí Công Thương cùng các công trình nghiên cứu của các chuyên gia pháp lý trong nước (PGS.TS. Nguyễn Như Phát, ThS. Trần Thị Bảo Ánh, ThS. Nguyễn Xuân Nam, ThS. Nguyễn Ngọc Sơn).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm soát tập trung kinh tế và pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về TTKT dưới hai lăng kính: kinh tế học và khoa học pháp lý. Về mặt kinh tế, TTKT bắt nguồn từ sức ép cạnh tranh thị trường, tác động của khủng hoảng kinh tế và nhu cầu tích tụ vốn, công nghệ để khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô. Về mặt pháp lý, TTKT là biểu hiện của quyền tự do kinh doanh và quyền tổ chức lại doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận. Tác giả phân tích 4 đặc điểm cơ bản của TTKT:
- Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp độc lập;
- Hình thức thực hiện (sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh) gắn liền với mục đích nắm quyền kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp khác và làm thay đổi cơ cấu sở hữu;
- Hậu quả làm thay đổi cấu trúc thị trường, tiềm ẩn nguy cơ triệt tiêu cạnh tranh và dẫn đến độc quyền;
- Nhà nước thực hiện kiểm soát thông qua các tiêu chí pháp lý định lượng (thị phần kết hợp, doanh thu).
| Mô hình kiểm soát |
Quốc gia / Khu vực áp dụng |
Đặc trưng nguyên tắc kiểm soát |
| Mô hình Hoa Kỳ |
Hoa Kỳ, Canada, Argentina... |
Cấm tập trung kinh tế và độc quyền về mặt hình thức; thẩm tra sâu hành vi dựa trên tác động cạnh tranh thực tế. |
| Mô hình Châu Âu |
Các nước Tây Âu, Úc, New Zealand, Nam Phi, Vương quốc Anh |
Kiểm soát tác động tiêu cực; cho phép đăng ký các dự án không làm hạn chế đáng kể cạnh tranh để giảm gánh nặng hành chính. |
| Mô hình hỗn hợp |
CHLB Đức |
Kết hợp quy định cấm thỏa thuận/sáp nhập với cơ chế miễn trừ chặt chẽ (áp dụng ngưỡng vốn, thị phần dưới 5%, mua từ 25% đến 50% cổ phần). |
Đối với Việt Nam, Luật Cạnh tranh 2004 thiết lập khung kiểm soát dựa trên tỷ lệ thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia trên thị trường liên quan:
- Thị phần kết hợp dưới 30% hoặc doanh nghiệp sau TTKT thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa: Được tự do tiến hành, không phải thực hiện thủ tục thông báo bắt buộc.
- Thị phần kết hợp từ 30% đến 50%: Được phép tiến hành nhưng bắt buộc phải nộp hồ sơ thông báo trước cho Cục Quản lý Cạnh tranh.
- Thị phần kết hợp trên 50% (trừ doanh nghiệp nhỏ và vừa): Bị cấm thực hiện (Điều 18), trừ trường hợp được Thủ tướng Chính phủ cho hưởng miễn trừ theo Điều 19 (nguy cơ bị giải thể/phá sản hoặc mở rộng xuất khẩu, phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ).
Chương 2: Những nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát tập trung kinh tế
Chương 2 đi sâu phân tích cơ chế điều chỉnh của Luật Cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về hình thức, pháp luật phân loại TTKT theo các cấp độ kinh tế kỹ thuật (chiều ngang, chiều dọc, đường chéo thuần túy, đường chéo hỗn hợp mở rộng sản phẩm hoặc thị trường) và theo quy định tại Điều 16, Điều 17 Luật Cạnh tranh 2004:
- Sáp nhập doanh nghiệp (Khoản 1 Điều 17): Doanh nghiệp bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ sang doanh nghiệp nhận sáp nhập và chấm dứt tồn tại.
- Hợp nhất doanh nghiệp (Khoản 2 Điều 17): Các doanh nghiệp hợp nhất chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ để thành lập pháp nhân mới và cùng chấm dứt tồn tại.
- Mua lại doanh nghiệp (Khoản 3 Điều 17): Mua toàn bộ hoặc một phần tài sản, cổ phần đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp khác. Ngoại lệ tại Điều 35 quy định trường hợp tổ chức tín dụng, bảo hiểm mua lại cổ phần nhằm mục đích bán lại trong thời hạn ít nhất một năm không bị coi là TTKT nếu không thực hiện quyền chi phối.
- Liên doanh giữa các doanh nghiệp (Khoản 4 Điều 17): Các bên cùng góp vốn thành lập một doanh nghiệp mới độc lập.
Về nội dung kiểm soát, tác giả phân tích cơ chế xác định thị trường liên quan (thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan) theo Nghị định 116/2005/NĐ-CP. Thị trường sản phẩm liên quan yêu cầu đáp ứng đồng thời 3 tiêu chí: đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả (xác định qua phép thử giả định trên mẫu 1.000 người tiêu dùng chuyển dịch nhu cầu khi giá tăng trên 10% liên tục 6 tháng). Ngưỡng thị phần 30% được sử dụng làm công cụ duy nhất để suy đoán sức mạnh thị trường và xác định vị trí thống lĩnh.
Trình tự, thủ tục tố tụng cạnh tranh đối với vụ việc TTKT bao gồm 4 giai đoạn:
- Khiếu nại: Thời hiệu khiếu nại là 02 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện;
- Thụ lý hồ sơ: Cục Quản lý Cạnh tranh thông báo thụ lý bằng văn bản trong thời hạn 07 ngày làm việc;
- Điều tra vụ việc: Điều tra sơ bộ trong thời hạn 30 ngày. Nếu có dấu hiệu vi phạm, tiến hành điều tra chính thức trong 180 ngày (có thể gia hạn tối đa 2 lần, mỗi lần không quá 60 ngày);
- Mở phiên điều trần và xử lý: Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh quyết định mở phiên điều trần, trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc đình chỉ trong thời hạn 30 ngày. Quyết định có hiệu lực sau 30 ngày nếu không có khiếu nại.
Về chế tài xử lý vi phạm (Nghị định 120/2005/NĐ-CP), mức phạt tiền áp dụng từ 1% đến 3% tổng doanh thu năm tài chính trước đó đối với hành vi không thông báo; tối đa 5% đối với hành vi TTKT bị cấm; từ 5% đến 10% đối với sáp nhập, mua lại bị cấm kèm hành vi chèn ép hoặc liên doanh/hợp nhất làm tăng giá hàng hóa đáng kể.
Chương này chỉ ra 5 nhóm bất cập lớn trong quy định pháp luật:
- Luật chỉ chú trọng kiểm soát TTKT theo chiều ngang, bỏ sót nguy cơ hạn chế cạnh tranh từ TTKT theo chiều dọc và đường chéo;
- Sử dụng thị phần làm tiêu chí duy nhất để suy đoán sức mạnh thị trường là quá đơn giản, không phản ánh toàn diện rào cản thị trường, quy mô vốn hay chỉ số HHI;
- Quy định xác định thị trường liên quan cứng nhắc khi bắt buộc thỏa mãn cùng lúc cả 3 tiêu chí, tách rời thị trường sản phẩm và địa lý, bỏ qua yếu tố thời gian;
- Tiêu chí miễn trừ theo Điều 19 quy định mơ hồ ("nguy cơ bị giải thể", "mở rộng xuất khẩu");
- Cách tính mức phạt tiền căn cứ trên tổng doanh thu thay vì doanh thu trên thị trường liên quan là thiếu hợp lý và thiếu mức phạt tiền tối thiểu (dẫn đến mức phạt 0 đồng nếu doanh thu bằng 0).
Chương 3: Thực trạng kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam và một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế của Luật Cạnh tranh Việt Nam
Chương 3 tổng hợp dữ liệu thực tế về các thương vụ M&A và công tác giám sát của Cục Quản lý Cạnh tranh giai đoạn 2009–2014:
| Năm |
Số lượng thương vụ M&A thực tế |
Tổng giá trị thương vụ (USD) |
| 2009 |
295 vụ |
1,14 tỷ |
| 2010 |
245 vụ |
1,75 tỷ |
| 2011 |
267 vụ |
6,30 tỷ (kỷ lục) |
| 2012 |
157 vụ |
4,90 tỷ |
| 2013 |
182 vụ |
3,20 tỷ |
| 2014 |
Đạt 2,0 tỷ USD cả năm (6 tháng đầu năm có 88 thương vụ thành công trị giá trên 1 tỷ USD; tổng giá trị giảm 37,5% so với năm 2013) |
|
Về công tác xử lý hồ sơ, tính đến hết tháng 12/2014, Cục Quản lý Cạnh tranh chỉ tiếp nhận 26 vụ việc thông báo TTKT (năm 2013 tiếp nhận 04 hồ sơ, năm 2014 tiếp nhận 09 hồ sơ thuộc các lĩnh vực: dệt may, vận tải biển, sản xuất nhựa, logistics, xi măng, bán lẻ, kính...). Trong tổng số 26 vụ: 20 vụ được thông qua, 01 vụ rút hồ sơ và 05 vụ đang trong quá trình xem xét. Con số 26 hồ sơ thông báo là quá nhỏ bé so với hơn 1.200 thương vụ TTKT thực tế diễn ra trong cùng giai đoạn.
| Thời gian |
Doanh nghiệp tham gia |
Ngành nghề, lĩnh vực |
Hình thức TTKT |
| 05/2014 |
A.P. Moller-Maersk A/S; CMA CGM S.A; MSC Mediterranean Shipping Company S.A |
Vận tải, kho bãi |
Liên doanh |
| 07/2014 |
Abbott Investments (bên mua); Positron Limited (bên bán); CFR Pharmaceuticals S.A (mục tiêu) |
Bán buôn, bán lẻ dược phẩm |
Mua lại |
| 09/2014 |
Công ty TNHH Schenker Việt Nam; Công ty TNHH Schenker-Gemadept Logistics Việt Nam |
Dịch vụ logistics |
Sáp nhập |
| 10/2014 |
Công ty TNHH Lixil INAX Việt Nam; Công ty TNHH Sản xuất Lixil INAX Sài Gòn; Công ty TNHH Lixil INAX Đà Nẵng |
Sản xuất, kinh doanh sứ vệ sinh, thiết bị phòng tắm |
Sáp nhập |
| 10/2014 |
Công ty CP Xi măng VICEM Hải Vân; Công ty CP Đá xây dựng Hòa Phát |
Sản xuất, kinh doanh xi măng, clinker, đá xây dựng |
Sáp nhập |
| 11/2014 |
Công ty TNHH Trung tâm thương mại Lotte Việt Nam; Công ty TNHH Lotte Mart Đà Nẵng |
Bán buôn, bán lẻ, sản xuất chế biến thực phẩm |
Sáp nhập |
| 12/2014 |
Công ty TNHH Công nghiệp Kính NSG Việt Nam; Công ty TNHH Kính chuyên biệt NSG Việt Nam |
Sản xuất, kinh doanh kính |
Sáp nhập |
Khóa luận phân tích chuyên sâu vụ việc miễn trừ điển hình năm 2014 giữa Công ty CP Chuyển mạch Tài chính Quốc gia Việt Nam (Banknetvn) và Công ty CP Dịch vụ Thẻ Smartlink. Hồ sơ nộp ngày 19/08/2014 trong lĩnh vực trung gian thanh toán thẻ ngân hàng. Sau sáp nhập, thị phần kết hợp đạt 100% (thuộc diện cấm theo Điều 18). Sau khi Cục Quản lý Cạnh tranh thẩm định và lấy ý kiến các Bộ ngành, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2327/QĐ-TTg ngày 22/12/2014 cho phép hưởng miễn trừ thời hạn 05 năm (tự động gia hạn mỗi 05 năm) căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và công nghệ theo Khoản 2 Điều 19.
Những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác kiểm soát được tác giả chỉ ra:
- Thiếu cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin liên ngành giữa cơ quan cạnh tranh với Sở Kế hoạch & Đầu tư, Ban Quản lý các KCN, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
- Vị thế pháp lý của Cục Quản lý Cạnh tranh trực thuộc Bộ Công Thương chưa bảo đảm tính độc lập, dễ phát sinh xung đột lợi ích khi xử lý các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ;
- Bất cập về thẩm quyền giải quyết khiếu nại khi quyết định của Hội đồng Cạnh tranh bị khởi kiện phân tán tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên toàn quốc;
- Đội ngũ nhân sự cơ quan quản lý cạnh tranh còn mỏng và thiếu kinh nghiệm phân tích kinh tế chuyên sâu.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và công bố bức tranh toàn cảnh về hoạt động kiểm soát TTKT tại Việt Nam giai đoạn 2009–2014 với các phát hiện cụ thể:
- Chỉ ra độ lệch lớn giữa thực tiễn thị trường (hơn 1.200 thương vụ M&A) và số liệu kiểm soát chính thức (chỉ có 26 hồ sơ thông báo tới Cục Quản lý Cạnh tranh, trong đó thông qua 20 vụ, 01 vụ rút hồ sơ, 05 vụ đang xem xét).
- Thống kê chi tiết diễn biến giá trị M&A qua các năm: 2009 (1,14 tỷ USD), 2010 (1,75 tỷ USD), 2011 (đỉnh cao 6,3 tỷ USD), 2012 (4,9 tỷ USD), 2013 (3,2 tỷ USD), và 2014 (2,0 tỷ USD).
- Phân tích thành công hồ sơ miễn trừ sáp nhập độc quyền 100% thị phần giữa Banknetvn và Smartlink theo Quyết định số 2327/QĐ-TTg ngày 22/12/2014.
Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Mở rộng phạm vi kiểm soát: Bổ sung quy định kiểm soát đối với các hành vi TTKT theo chiều dọc và đường chéo; đồng thời thiết lập hành lang pháp lý kiểm soát các vụ việc sáp nhập của các tập đoàn đa quốc gia diễn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh trong nước.
- Bổ sung tiêu chí đánh giá sức mạnh thị trường: Không dựa duy nhất vào thị phần kết hợp 30%, cần bổ sung các tiêu chí về doanh thu, giá trị giao dịch, chỉ số HHI (Herfindahl-Hirschman Index), rào cản gia nhập/mở rộng thị trường và sức mạnh đàm phán của người mua.
- Điều chỉnh linh hoạt cách xác định thị trường liên quan: Áp dụng phương pháp đánh giá tổng hòa các tiêu chí đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả tùy theo từng loại sản phẩm, dịch vụ cụ thể thay vì áp đặt cứng nhắc đồng thời cả ba tiêu chí.
- Cụ thể hóa điều kiện hưởng miễn trừ: Định nghĩa rõ ràng khái niệm "nguy cơ bị giải thể"; xây dựng hệ thống tiêu chí miễn trừ theo khối (Block Exemption) học hỏi kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu hoặc ban hành danh mục các hành vi mặc nhiên được miễn trừ nhằm đơn giản hóa thủ tục giải trình cho doanh nghiệp.
Đóng góp của khóa luận nằm ở việc tiếp cận có hệ thống hành vi TTKT dưới góc độ hạn chế cạnh tranh, phân tích toàn diện các quy định của Luật Cạnh tranh 2004 và đối chiếu trực tiếp với dữ liệu thực thi thực tế của Cục Quản lý Cạnh tranh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học nên phạm vi khảo sát thực tế bị giới hạn trong mốc thời gian 5 năm (2009–2014). Tác giả cũng tự nhận định do kinh nghiệm thực tế của bản thân chưa nhiều nên các phân tích kinh tế lượng chuyên sâu về cấu trúc thị trường chưa được triển khai chi tiết. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát các giai đoạn sau năm 2014, nghiên cứu sâu hơn về việc áp dụng các mô hình kinh tế trong việc xác định tổn hại cạnh tranh từ các thương vụ TTKT xuyên biên giới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Giảng viên và sinh viên ngành Luật kinh tế, Luật Thương mại quốc tế khi nghiên cứu chuyên đề pháp luật cạnh tranh, các hành vi hạn chế cạnh tranh và thủ tục tố tụng cạnh tranh.
- Các luật sư, chuyên viên tư vấn pháp lý doanh nghiệp trong việc rà soát điều kiện thông báo tập trung kinh tế, chuẩn bị hồ sơ xin miễn trừ hoặc đánh giá rủi ro pháp lý trong các giao dịch M&A.
- Các chương có giá trị tham khảo cao gồm: Bảng tổng hợp các vụ việc thông báo TTKT năm 2014 tại Chương 3; phân tích pháp lý vụ việc miễn trừ Banknetvn - Smartlink; và phần phân tích bất cập của các tiêu chí xác định thị trường liên quan tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004, những trường hợp tập trung kinh tế nào bị cấm và những trường hợp nào phải thông báo bắt buộc?
Theo Điều 18 và 20 Luật Cạnh tranh 2004, trường hợp các doanh nghiệp tham gia TTKT có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp phải làm thủ tục thông báo trước cho Cục Quản lý Cạnh tranh. Trường hợp thị phần kết hợp chiếm trên 50% trên thị trường liên quan thì bị cấm thực hiện (trừ khi doanh nghiệp sau TTKT thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc thuộc diện được hưởng miễn trừ theo Điều 19).
2. Vụ việc đề nghị hưởng miễn trừ tập trung kinh tế giữa Banknetvn và Smartlink năm 2014 có đặc điểm gì nổi bật?
Đây là vụ việc sáp nhập trong lĩnh vực trung gian thanh toán ngân hàng có thị phần kết hợp đạt 100% (thuộc diện bị cấm theo Điều 18). Các bên nộp hồ sơ ngày 19/08/2014 giải trình điều kiện góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ. Ngày 22/12/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2327/QĐ-TTg cho phép miễn trừ với thời hạn 5 năm và tự động gia hạn sau mỗi 5 năm.
3. Tại sao tác giả cho rằng mức phạt tiền vi phạm quy định tập trung kinh tế theo Nghị định 120/2005/NĐ-CP là chưa hợp lý?
Nghị định 120/2005/NĐ-CP tính mức phạt dựa trên tổng doanh thu trong năm tài chính trước của doanh nghiệp thay vì doanh thu trên thị trường liên quan bị ảnh hưởng, dẫn đến mức phạt không tương xứng với mức độ thiệt hại thực tế. Ngoài ra, quy định không có mức phạt tối thiểu bằng tiền cụ thể, dẫn đến trường hợp doanh nghiệp có tổng doanh thu bằng 0 đồng sẽ chịu mức phạt 0 đồng, làm mất tính răn đe.
4. Tính đến hết tháng 12/2014, Cục Quản lý Cạnh tranh đã tiếp nhận và xử lý bao nhiêu vụ việc thông báo tập trung kinh tế?
Cục Quản lý Cạnh tranh đã tiếp nhận 26 vụ việc thông báo TTKT. Kết quả xử lý gồm: 20 vụ việc được thông qua, 01 vụ việc rút hồ sơ và 05 vụ việc đang trong quá trình xem xét (con số này rất nhỏ so với hơn 1.200 thương vụ M&A thực tế diễn ra trong cùng thời kỳ).
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Đặng Ngọc Huyền đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về các khía cạnh pháp lý của việc kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam theo Luật Cạnh tranh 2004. Thông qua việc phân tích lý luận, quy định pháp luật hiện hành và dẫn chứng các số liệu thực thi thực tế giai đoạn 2009–2014, tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn về tiêu chí thị phần, cách xác định thị trường liên quan và cơ chế tổ chức của cơ quan cạnh tranh. Những đề xuất hoàn thiện pháp luật được trình bày trong khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và nghiên cứu học thuật chuyên ngành Luật kinh tế.