Lời mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án bao gồm 3 chương: Chương1: Những vấn đề cơ bản về kiểm soát công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. Chương 2: Thực trạng kiểm soát công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.Tổng quan về thuế và hộ kinh doanh cá thế 1.
Khái niệm, đặc điểm của thuế * Khái niệm Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách quốc gia. Nước nào cũng có những khoản chi ngân sách hàng năm. Để tài trợ cho những khoản công chi đó, có 5 nguồn tài trợ chính sau: - Thuế; - Phát hành tiền tệ; - Phát hành công trái; - Nhận viện trợ hoàn lại và vay, nợ của nước ngoài; - Nhận viện trợ không hoàn lại của nước ngoài. Trong đó thuế giữ vai trò quan trọng hơn cả, vì thuế có sự điều tiết chia sẻ và công bằng giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp đồng thời nói lên sức mạnh tự chủ về tài chính của một quốc gia.
Vậy ta có thể hiểu: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng “[19] Sắc thuế là “một hình thức thuế cụ thể được quy định bằng một văn bản pháp luật, dưới hình thức luật, pháp lệnh hoặc các chế độ thuế”. Sổ bộ thuế: “Là hệ thống sổ của cơ quan thuế ghi chép thông tin, số liệu về căn cứ tính thuế và tiền thuế phải nộp ổn định trong kỳ của hộ khoán”. Chi cục trưởng Chi cục Thuế ký duyệt Sổ bộ thuế và chịu trách nhiệm về việc phân loại, xác định đối tượng thuộc diện nộp thuế hoặc không phải nộp thuế của hộ kinh doanh trên địa bàn. Số tiền thuế trên Sổ bộ thuế sau khi được Lãnh đạo Chi cục Thuế ký duyệt được dùng làm căn cứ để hạch toán nghĩa vụ thuế phải thu của hộ kinh doanh trong kỳ và được ghi trong thông báo thuế gửi hộ kinh doanh.
Sổ bộ thuế được cơ quan thuế lưu giữ theo chế độ quy định. * Đặc điểm của thuế Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của thuế: 4 Thứ nhất, tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước. Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của Nhà nước, theo đó một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân.
Thứ hai, tính không hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ thuế được hoàn trả gián tiếp cho NNT thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT. Sau khi nộp thuế nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT.
Thứ ba, tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. Đây là một điểm giúp phân biệt thuế và các khoản phí, lệ phí. Tuy cũng là những khoản thu có tính chất bắt buộc nhưng phí và lệ phí được thực hiện dựa theo các văn bản dưới luật. Có thể thấy, thuế và quyển lực Nhà nước là hai phạm trù không thể tách rời: Nhà nước là chủ thể duy nhất đặt ra các khoản thuế và ngược lại thuế là phương tiện vật chất chủ yếu để duy trì quyền lực Nhà nước.
Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước tạo ra cho thuế tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Vì vậy, chỉ gắn với yếu tố quyền lực Nhà nước, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho Nhà nước. Khái niệm, vai trò, đặc điểm, phân loại hộ kinh doanh cá thể 1.Khái niệm Hộ kinh doanh theo Điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về Đăng ký doanh nghiệp: "Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, 5 có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh".[4] - Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng kí, trừ trường hợp kinh doanh các ngành nghề có điều kiện. Hộ kinh doanh có thu nhập thấp được quy định tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài Chính [4].
- Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn 10 lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp. Hộ kinh doanh cá thể là mô hình quản lý đơn giản, gọn nhẹ, sử dụng ít lao động, được phân bổ rộng rãi trong tầng lớp dân cư. Về thời gian của hộ kinh doanh cá thể là đa thời gian, điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân trên địa bàn và có cầu ắt có cung, nhất là nhu cầu về ăn uống, dịch vụ, thương mại. Các hộ kinh doanh cá thể này không những tạo ra một lượng sản phẩm không nhỏ trong tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này vào NSNN cũng chiếm một tỉ trọng tương đối lớn, đồng thời còn thu hút được một lực lượng lớn lao động nhàn rỗi đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội mà thành phần kinh tế quốc doanh và các DNNQD chưa đảm đương hết, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân [4].
Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể Hộ kinh doanh cá thể là thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân mình là chính. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế cá thể phát triển rất nhanh chóng trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ… Các hộ kinh doanh cá thể thường có những đặc điểm sau [16]: 6 - Chủ thể đăng kí: Cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ hoặc một nhóm người hoặc một gia đình cũng có thể đăng kí kinh doanh loại hình doanh nghiệp hộ kinh doanh. - Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các khoản nợ của hộ kinh doanh. - Về quy mô sản xuất kinh doanh: Các hộ kinh doanh cá thể thường có quy mô nhỏ, trình độ chuyên môn yếu kém, quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, được đăng kí kinh doanh tại một hoăc nhiều địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu.
- Số lượng hộ kinh doanh cá thể thường rất lớn, đa dạng về đối tượng, hình thức, ngành nghề, địa bàn và thời gian hoạt động. - Ý thức tuân thủ pháp luật thuế của các hộ kinh doanh cá thể còn hạn chế. - Hộ kinh doanh cá thể không có tư cách pháp nhân. Vai trò hộ kinh doanh cá thể Hộ kinh doanh cá thể có vai trò rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, do đó nó có khả năng đóng góp vào nền kinh tế - xã hội của đất nước.
Những vai trò nổi bật của hộ kinh doanh cá thể là [18]: - Hộ kinh doanh cá thể có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến được phân bố rộng rãi ở mọi lúc, mọi nơi. Nhờ đó họ có thể phát huy được sáng kiến của mình vào việc sản xuất và tìm tòi ra những hình thức kinh doanh thích hợp với nền kinh tế mà sản xuất kinh doanh nhỏ còn phổ biến. - Có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất, những bí quyết sản xuất truyền thống được tích lũy qua nhiều thế hệ. Điều này cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu xã hội và xuất khẩu.
Nó có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện đất nước còn thiếu vốn như hiện nay. Thực tế những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, …, đã biết vận dụng đúng đắn tiềm năng này và đã thành công trong quá trình phát triển kinh tế. - Hộ kinh doanh huy động được số lượng vốn lớn, khai thác tiềm năng, sức sáng tạo trong dân, thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong khi nguồn vốn của Nhà nước, của tập thể còn hạn hẹp thì nguồn vốn tiềm năng trong dân lại rất lớn.
Do đó, nếu có chính sách kinh tế phù hợp sẽ mở đường cho các hộ cá thể gia 7 đình có khả năng bỏ vốn vào sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích lũy, mở rộng tái sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích lũy, mở rộng tái sản xuất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh chóng. - Hộ kinh doanh góp phần tạo việc làm, sử dụng số lượng lớn lao động, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khu vực kinh tế cá thể đã thu hút một lực lượng lao động đáng kể, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội.