Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án dân sự Chương 2. Quy định của pháp luật thi hành án dân sự việt nam hiện hành về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án dân sự Chương 3: Thực tiễn thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án dân sự tại viện kiêm sát nhân dân và một sô giải pháp hoàn thiện CHUONG 1. MOT SO VAN DE LY LUAN VE KIEM SAT VIEC TUAN THEO PHÁP LUẬT TRONG THI HANH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án dân sự LI.
Khai niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án dân sự Hiện nay, chưa có một khái niệm thống nhất về kiểm sát việc TTPL trong THADS. Theo Từ điển Hán - Việt thì “thi hành” được hiểu là “Dem cái việc đã trù định sẵn mà làm ra cho có hiệu quả” [1, tr. Như vậy, THADS là quá trình đưa các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành. THADS là giai đoạn tiếp theo của hoạt động xét xử, trong đó cơ quan THADS tiến hành các hoạt động nhằm thực thi các bản án, quyết định của Tòa án.
Theo quy định của Hiến pháp 2013, các bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì bắt buộc phải thi hành. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động QLNN ở nước ta hiện nay. Xuất phát từ cơ sở pháp lý và thực tiễn trong quá trình THADS ở nước ta, có nhiều ý kiến ủng hộ quan điểm rằng việc THADS là một hoạt động đặc thù, kết hợp sự đa dạng giữa tính chất hành chính và tính chất pháp lý. Điều này bởi vì nền tảng của quá trình THADS là các quyết định dân sự và án phán của Tòa án, cùng với sự tham gia chủ yếu của các cơ quan pháp luật.
Hơn nữa, việc THADS là một giai đoạn liên quan chặt chẽ đến các giai đoạn tố tụng trước đó, thể hiện tính chất đặc biệt của hoạt động thi hành án trong quá trình thực thi pháp luật. Trong quá trình THADS, khía cạnh TTPL là biểu hiện của đặc điểm này. Điều này cho thấy quá trình THADS không chỉ là một hoạt động tố tụng 10 thuần túy. Bên cạnh Tòa án và VKSND, chúng ta cũng thấy sự tham gia đa dạng và phong phú hơn của các chủ thể trong giai đoạn này.
Đây bao gồm cả các cơ quan địa phương nơi người phải thi hành án cư trú và các cơ quan, tổ chức mà người phải thi hành án phải tương tác. Hiện nay, vấn đề THADS ở nước ta đang thu hút sự quan tâm và tập trung của các cơ quan nhà nước có thâm quyền và xã hội. Dé nâng cao hiệu quả công tác THADS, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về THADS là một nhiệm vụ cấp bách. Sự điều chỉnh nội dung của pháp luật về THADS bao gồm các quy định nhăm tối ưu hóa việc thực hiện và thi hành pháp luật trong thực tế; ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực THADS; đảm bảo trách nhiệm của những người có thâm quyền trong quá trình xử lý và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân; tăng cường trật tự và kỷ cương trong QLNN và xã hội đối với vấn đề THADS, nhằm đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Hoạt động THADS ở nước ta đã được quy định trong Hiến pháp và các văn bản luật, nhằm đáp ứng yêu cầu chính trị, quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới. Luật THADS năm 2008, sửa đổi b6 sung 2014, 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định nhiều nội dung phù hợp, tạo điều kiện tối đa cho việc thực hiện hoạt động THADS trong qua trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xuất phát từ nguyên tắc hiến định quy định tại Điều 106 Hiến pháp 2013, bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được nghiêm chỉnh chấp hành. Do đó, hoạt động thi hành án nói chung và THADS nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Giai đoạn THADS đánh dấu sự kết thúc của bản án, quyết định của Tòa án hoặc Trọng tài thương mại. Trong giai đoạn nay, cơ quan thi hành án tập 11 trung vao việc thực hiện các quyết định đã có hiệu lực, nhăm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan và tô chức. Hoạt động THADS tập trung vao việc thực hiện những quyết định đã được xác định, không đặt lại nội dung của vụ việc nói chung. Giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo rằng các quyết định của cơ quan có thâm quyền được thực hiện một cách đầy đủ.
Ngoài ra, giai đoạn nay cũng cho phép cơ quan thi hành án phát hiện các sai sót trong việc áp dụng pháp luật và đưa ra kiến nghị cho Tòa án có thâm quyền dé điều chỉnh quy trình xét xử, hướng dẫn việc áp dụng pháp luật, và đề xuất các điều chỉnh pháp luật cần thiết. Điều này giúp cải thiện quá trình thi hành án và đảm bảo tính công băng và nghiêm minh của hệ thống pháp luật. Theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 của Luật THADS năm 2008 (đã được sửa đổi và bô sung năm 2022), hoạt động THADS là một quá trình mà nhiều tổ chức và cá nhân tham gia, bao gồm cả các cơ quan THADS, trong quá trình thực hiện các bản án và quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, và Trọng tài thương mại. Hoạt động THADS này được tiến hành theo nguyên tắc và trình tự được quy định cụ thể trong Luật THADS, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành và các quy định pháp luật có liên quan.
Như vậy, trên cơ sở đó có thể đưa ra khái niệm như sau: THADS là việc tổ chức thi hành những ban án, quyết định về phan dân sự của các cơ quan có thẩm quyên được thực hiện bởi cơ quan THADS theo trình tự thủ tục chặt chẽ theo qui định của pháp luật về THADS, nhằm đảm bảo quyên và loi ích hợp pháp theo các quyết định trong các bản án, quyết định đã tuyên. Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi THADS là các quan hệ giữa các chủ thể có liên quan đến việc THADS, được pháp luật THADS điều chỉnh. Các quan hệ này bao gồm: Quan hệ giữa cơ quan THADS với người phải thi hành án, người được thi hành án, và các cơ quan, tô chức, cá nhân có 12 liên quan; Quan hệ giữa cơ quan THADS với cơ quan nhà nước có thâm quyên khác. Cơ chế giám sát hoạt động tư pháp là phương thức tổ chức và vận hành theo những nguyên tắc, những quy định của pháp luật và phương tiện pháp lý tác động và làm cho hoạt động của các cơ quan tư pháp theo đúng pháp luật, ngăn ngừa vi phạm, sự lam dụng quyền hạn và các hành vi tiêu cực khác, nhằm nâng cao trách nhiệm pháp lý của các cơ quan tư pháp, đội ngũ cán bộ tư pháp, để pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Cơ chế giám sát hoạt động tư pháp bao gồm các yếu tố sau: Chủ thé giám sát; đối tượng giám sát; phương thức giám sát. Theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND là cơ quan thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong đó, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND là chức năng quan trọng, nhằm bảo đảm cho các hoạt động tư pháp được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, góp phần xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dé thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ của mình, VKSND thực hiện các công tác theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật tổ chức VKSND năm 2014”.
Những công tác này được thực hiện theo các nguyên tắc, phương pháp và quy định của pháp luật, nhăm bảo đảm cho các hoạt động tư pháp được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, góp phần xây dựng và củng cô nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu khái niệm kiểm sát việc TTPL trong THADS như sau: Kiểm sát việc TTPL trong THADS là chức năng, nhiệm vụ của VKSND, nhằm bảo đảm các quyết định, bản an của TAND được thực hiện một cách chính xác và day đủ. VKSND thực hiện kiểm sát thông qua 2 Xem Khoản 2, Điều 6 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 13 việc kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của cơ quan THADS, Chấp hành viên, người phải thi hành án, người được thi hành án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Đặc điểm của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án dân sự Kiểm sát việc TTPL trong THADS là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan tư pháp, nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của quá trình thi hành án.
Đề hiểu rõ hơn về đặc điểm của hoạt động này, chúng ta cần tìm hiểu về quy trình và phương pháp thực hiện trong thực tế. Trên cơ sở khái niệm nêu trên và kết quả nghiên cứu quy định của pháp luật có thê rút ra một số đặc điểm sau: Thứ nhất, kiêm sát việc TTPL trong THADS là chức năng hiến định của VKSND, có phạm vi xác định, thời điểm bắt đầu từ khi có quyết định thi hành án của cơ quan có thâm quyền và thời điểm kết thúc là thi hành xong quyết định thi hành án. Hoạt động kiểm sát này bao gồm việc kiểm tra và đánh giá sự tuân thủ pháp luật của cơ quan THADS, Chấp hành viên, người phải thi hành án, người được thi hành án và các cơ quan, tô chức, cá nhân khác có liên quan. Thứ hai, trong quá trình kiểm sát, các cơ quan tư pháp cần phải tuân thủ đúng quy trình, quy định và pháp luật liên quan đến việc kiểm sát.
Điều này đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả kiểm sát.