phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát hoạt động chuyển giá và pháp luật điều chỉnh về kiểm soát chuyển giá của các Công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam Chƣơng 2: Đánh giá và phân tích thực trạng pháp luật kiểm soát chuyển giá của các công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Chƣơng 3: Định hƣớng hoàn thiện và một số kiến nghị về pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật kiểm soát hành vi chuyển giá tại Việt Nam 6 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ KIỂM SOÁT CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. Khái quát về chuyển giá 1.
Khái niệm về các bên liên kết Các bên đƣợc coi là có quan hệ liên kết khi thuộc một trong các trƣờng hợp: (i) Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tƣ dƣới mọi hình thức vào bên kia; (ii) Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tƣ dƣới mọi hình thức của một bên khác; (iii) Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tƣ dƣới mọi hình thức vào một bên khác [17]. Hay có thể hiểu rằng: Các bên gọi là có quan hệ liên kết nếu thuộc một trong các trƣờng hợp: (i) Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tƣ vào bên kia; (ii) Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tƣ của một bên khác. Khái niệm về giao dịch độc lập, giao dịch liên kết 1. Khái niệm về giao dịch độc lập Giao dịch độc lập là giao dịch kinh doanh giữa các bên không có quan hệ liên kếttrong khuôn khổ kinh doanh thông thƣờng.
Trong đó chủ thể trong giao dịch độc lập không bị ảnh hƣởng và tác động bởi chủ thể khác. Các giao dịch phát sinh trong hoạt động này sẽ tuân thủ các nguyên tắc về phù hợp với giá trị giao dịch của thị trƣờng. Do đó, giao dịch độc lập là giao dịch giữa các bên không có quan hệ liên kết. Khái niệm về giao dịch liên kết Giao dịch liên kết là giao dịch kinh doanh giữa các bên liên kết.
Giao dịch liên kết sẽ là giao dịch mà có sự tham gia của các bên liên kết trong quá trình sản xuất, kinh doanh, bao gồm: Mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mƣợn, cho mƣợn, chuyển giao, chuyển nhƣợng máy móc, thiết bị, hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mƣợn, cho mƣợn, chuyển giao, chuyển nhƣợng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận sử dụng chung nguồn lực nhƣ hợp lực, hợp tác khai thác sử dụng nhân lực; chia sẻ chi phí giữa các bên liên kết. Các giao dịch độc lập, giao dịch liên kết Hình 1.1: Hình minh họa thể hiện các giao dịch độc lập, giao dịch liên kết Nguồn: Nguyễn Đức Phong Bối cảnh: Công ty A ở Hoa Kỳ, sở hữu 100% vốn đầu tƣ tại Công ty B ở Việt Nam và Công ty C ở Nhật Bản về lĩnh vực hàng dệt may. Công ty B nhập hàng từ Công ty C và phân phối sản phẩm trên lãnh thổ Việt Nam. 8 Khi đó, phát sinh một số giao dịch nhƣ sau: Khi Công ty B phân phối, giao hàng cho các khách hàng ở Việt Nam (Không liên quan đến công ty A và công ty C) thì giao dịch giữa Công ty B và khách hàng là giao dịch độc lập (Independent transactions).
Khi Công ty B nhập hàng từ Công ty C: Do Công ty B và Công ty C đều bị A sở hữu 100% vốn góp nên 3 công ty này có mối quan hệ liên kết với nhau theo các quy định về giao dịch liên kết. Mối quan hệ giữa Công ty A và Công ty B hoặc Công ty C là mối quan hệ trực tiếp. Trong khi đó, mối quan hệ giữa Công ty B và Công ty C là mối quan hệ gián tiếp vì cùng chịu sở hữu bởi A. Chúng ta gọi mối quan hệ giữa Công ty A, Công ty B và Công ty C là “quan hệ liên kết”.
Khi đó, Công ty B và công ty C có giao dịch với nhau thì giao dịch này sẽ gọi là “giao dịch liên kết” (Related party transaction). Khái niệm về hoạt động chuyển giá Theo quan điểm của Lê Thanh Hà năm 2019: “Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá giữa các bên có quan hệ liên kết không tuân theo giá trị trƣờng” [13]. Đỗ Thiên Tuấn Anh cho rằng: “Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ cũng nhƣ tài sản giao dịch giữa các thành viên trong một tập đoàn hoặc giữa các công ty có mối liên kết với nhau không theo tiêu chuẩn giá thị trƣờng nhằm tối thiểu hóa số thuế thu nhập phải nộp của tập đoàn hay một nhóm công ty liên kết đó” [10]. Theo David McNair và công sự: Chuyển giá là việc xác định giá trị giữa các bên có quan hệ liên kết, ví dụ giữa các công ty trong quan hệ liên kết chịu sự kiểm soát của cùng một công ty.
Giao dịch này, có thể bao gồm: mua bán hàng hóa, hoặc tài sản hữu hình, tài sản vô hình, cung cấp dịch vụ, cung cấp tài chính, và cũng nhƣ việc phân bổ và chia sẻ chi phí [31]. Ganapati Bhat đƣa ra quan điểm: Chuyển giá đƣợc định nghĩa là việc định giá các sản phẩm hoặc dịch vụ đƣợc cung cấp bởi một hoặc nhiều chủ 9 thể có mối quan hệ liên kết trong một tập đoàn. Các công ty đa quốc gia có nhiều công ty con hoặc chi nhánh trên khắp các quốc gia, mỗi bên là một trung tâm lợi nhuận. Giá trị giao dịch của hàng hoác hoặc dịch vụ giữa các bên liên kết không phải lúc nào cũng phản ánh giá trị thông thƣờng trên thị trƣờng [33].
Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đƣa ra nhận định: Chuyển giá là một trong những hình thức trốn thuế rất tinh vi đƣợc thực hiện bởi các công ty có giao dịch liên kết ở các Công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài [24]. Từ những quan điểm trên, chuyển giá là một trong những hành vi trốn thuế thông qua việc thực hiện chính sách giá giữa các bên có mối quan hệ liên kết không tuân theo giá thị trƣờng nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp. Đặc điểm của hoạt động chuyển giá Một là các Công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đã tận dụng sự chênh lệch giữa thuế suất giữa các quốc gia khác nhau hoặc giữa các khu phi thuế quan và nội địa để thực hiện hành vi chuyển giá, điều chỉnh doanh thu, chi phí và lợi nhuận. Cụ thể hơn nếu ở nơi có thuế suất cao hơn thì các Công ty thƣờng có xu hƣớng điều chỉnh giảm doanh thu, tăng chi phí từ đó làm giảm lợi nhuận tại đây để giảm thuế thu nhập Công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài phải nộp cho cơ quan thuế sở tại.
Trong khi đó ở nơi có thuế suất thấp (có thể ở cả những nơi đƣợc gọi là thiên đƣờng thuế) thì các Công ty có xu hƣớng khai tăng doanh thu, giảm lợi nhuận để từ đó nếu có đóng thuế thu nhập Công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thì cũng đƣợc tối thiểu hóa. Hai là xuất phát từ tính tổng thể của các Công ty đa quốc gia. Khi hợp nhất Báo cáo tài chính của các công ty này thì thực hiện theo phƣơng pháp cộng gộp. Do đó, tổng doanh thu, tổng chi phí và tổng lợi nhuận đều không có sự thay đổi khi có sự kiện/ hành vi chuyển giá.
10 Do đó, có thể thấy rằng xét về kết quả kinh doanh của Báo cáo tài chính hợp nhất thì Công ty đa quốc gia này không bị ảnh hƣởng. Tuy nhiên, họ đã trốn/né tránh thuế để thực hiện mục đích không tuân thủ pháp luật địa phƣơng về nghĩa vụ thuế. Mục đích kiểm soát hành vi chuyển giá ● Hạn chế tránh, né thuế Tránh và né thuế đƣợc định nghĩa là việc Công ty thực hiện các hoạt động hợp pháp hoặc bán hợp pháp nhằm lợi dụng các điểm mù của các quy định về thuế nhằm giảm thiểu số thuế phải nộp. Điều này là hành vi không tuân thủ các quy định của pháp luật thuế [32].
Do đó, thông qua hoạt động kiểm soát hành vi chuyển giá sẽ là công cụ để cơ quan thuế nhận biết và hạn chế các thủ thuật của các Công ty nhằm lợi dụng lỗ hổng của pháp luật để giảm thiểu số thuế phải nộp. Thông thƣờng đối với hoạt động kiểm soát hoạt động chuyển giá thì cơ quan thuế thƣờng quan sát và nghiên cứu các khoản khấu trừ thuế và ƣu đãi thuế của Công ty. Do đó, khi cơ quan thuế nhận biết đƣợc đầy đủ các dấu hiệu của hành vi chuyển giá sẽ giúp cho cơ quan thuế phát hiện ra những Công ty đang thực hiện những hành vi này. Từ đó, cơ quan thuế sẽ có những chế tài, ấn định thuế phù hợp nhằm răn đe những Công ty thực hiện hoạt động tránh và né thuế.
● Hạn chế giao dịch không công bằng trên thị trường Xét về mặt nguyên tắc, thỏa thuận của các bên sẽ đƣợc công nhận nếu thỏa thuận này tuân thủ các quy định của pháp luật và không đƣợc thực hiện các hành vi nhằm ảnh hƣởng đến lợi ích của chủ thể kinh doanh khác, trật tự kinh doanh trên thị trƣờng và sự quản lý của cơ quan nhà nƣớc. Khi cơ quan thuế kiểm soát hoạt động chuyển giá sẽ đảm bảo quyền thu thuế của cơ quan thuế đối với những giao dịch bị thất thu thuế thu nhập Công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Bên cạnh đó, kiểm soát chuyển giá sẽ nhằm tạo 11 động lực kiến tạo môi trƣờng cạnh tranh, công bằng và minh bạch cho các Công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Bởi lẽ, khi kiểm soát hoạt động chuyển giá thì các Công ty sẽ phải nộp thuế dựa trên kết quả kinh doanh thực tế của mình tạo ra.
Các Công ty này sẽ không tận dụng đƣợc khoản thuế do tránh, né thuế hoặc trốn thuế để đẩy vào dòng tiền kinh doanh.