CHƯƠNG 1: Tổng quan về Đề tài. Nội dung Chương này giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của Luận văn. CHƯƠNG 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Trình bày các lý thuyết về FDI, về thương mại quốc tế; Một số lý luận chung về lợi nhuận, về định giá chuyển giao nội bộ và chuyển giá; Các nghiên cứu trước về chuyển giá và mô hình nghiên cứu đề xuất.
CHƯƠNG 3: Thiết kế nghiên cứu. Giới thiệu sơ lược về quy trình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, mô hình tuyến tính bội, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu. Xác định mức độ tác động của các hoạt động có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI trên địa bàn tỉnh Long An, đồng thời phân tích mối liên hệ giữa các biến.
CHƯƠNG 5: Kết luận và khuyến nghị, trình bày kết luận về kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động chuyển giá, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này sẽ trình bày lý thuyết về FDI; Lý luận chung về chuyển giao nội bộ và định giá chuyển giao; Lý luận chung về chuyển giá; Các nghiên cứu trước về chuyển giá, giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề nghị. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 2. Khái niệm: Theo Trịnh Thị Xuân Vân và Nguyễn Hoàng Ngân (2012), đầu tư quốc tế là một hình thức di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia.
Vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính: đầu tư tư nhân và hỗ trợ phát triển chính thức của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế. Đầu tư tư nhân được thực hiện dưới ba hình thức là FDI, đầu tư gián tiếp và tín dụng thương mại. Theo IMF (1993), FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một DN hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích là giành quyền quản lý DN. Theo Huq, Ross và Forsyth (2009), FDI là khoản chuyển từ công ty mẹ ở nước ngoài đến các quốc gia khác để xây dựng chi nhánh hoặc cơ sở kinh doanh.
Đầu tư “trực tiếp” là việc sở hữu lâu dài các cơ sở kinh doanh hoặc nhà máy ở nước ngoài, khác với đầu tư “gián tiếp” chỉ là sự sở hữu các tài sản tài chính. Luật Đầu tư (2014) giải thích “Nhà đầu tư nước ngoài” là các cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông; Còn “Vốn đầu tư” là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. 9 Như vậy, có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế mà ở đó nhà đầu tư từ nền kinh tế của quốc gia khác đóng góp một số vốn nhất định (theo quy định của quốc gia tiếp nhận đầu tư) vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ mà ở đó họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng họ tự bỏ vốn đầu tư. Các hình thức FDI tại Việt Nam: Theo Luật Đầu tư (2014), FDI được thực hiện dưới ba hình thức: Một là, đầu tư thành lập tổ chức kinh tế đáp ứng những điều kiện và thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; Đầu tư theo hợp đồng BCC thuộc một trong các trường hợp: Có nhà đầu tư nước ngoài hoặc có tổ chức kinh tế hoặc có cả nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh.
Hai là, nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các hình thức: Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần; Góp vốn vào công ty TNHH, công ty hợp danh; Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác. Ba là, nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các hình thức: Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông; Mua phần vốn góp của các thành viên trong công ty TNHH; Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh; Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác. Vai trò của FDI Thực tiễn cho thấy, khu vực FDI ngày càng có vai trò quan trọng, với những tác động tích cực lẫn tiêu cực đến nền kinh tế của cả quốc gia tiếp nhận đầu tư lẫn quốc gia chủ đầu tư. Nghiên cứu này chỉ đề cập đến vai trò của FDI đến quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Tác động tích cực của khu vực FDI: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2011); Hồng Phương Linh (2011); Nguyễn Mại (2012); Bùi Trinh và Nguyễn Huy Minh (2015) đều thống nhất quan điểm: FDI góp phần (1) bổ sung nguồn vốn, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tăng 10 thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô; (2) Tiếp thu công nghệ, kỹ năng quản lý, tạo việc làm và đào tạo lao động, tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Hồng Phương Linh (2011) và Bùi Quan Trọng (2012) còn chỉ rõ: (3) FDI làm năng động hóa nền kinh tế, tạo áp lực buộc các công ty trong nước phải đổi mới, phải chuyển mình để có thể lớn mạnh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, là tác nhân quan trọng để hiện đại hóa và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Theo Nguyễn Mại (2012), FDI còn góp phần (4) hình thành nhiều ngành kinh tế mới như ôtô, hóa dầu, tài chính… với các phương thức kinh doanh hiện đại, công nghệ tiên tiến, góp phần nâng cao thu nhập và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư. Khi nghiên cứu thực trạng thu hút đầu tư tại Việt Nam, Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006) chỉ ra rằng FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế, (5) là nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần cải thiện cán cân thanh toán; (6) góp phần tăng cường năng lực sản xuất, làm tăng năng suất và thu nhập quốc dân, khai thông thị trường sản phẩm (đặc biệt là gia tăng kim ngạch xuất khẩu).
Bên cạnh đó, nghiên cứu thấy rằng: (7) tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực FDI ngày càng tăng. Đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư, FDI sẽ ít rủi ro hơn so với đầu tư gián tiếp, do nhà đầu tư phải tự đứng ra quản lý và chịu trách nhiệm về những quyết định đầu tư của mình, do đó, (8) các nước nhận đầu tư trực tiếp không phải lo trả nợ và ít chịu rủi ro trước sự phá sản hoặc giải thể của các nhà đầu tư nước ngoài. FDI còn góp phần (9) giải quyết sự mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, phát huy những lợi thế so sánh về tài nguyên, nguồn nhân lực. Những tác động tích cực của khu vực FDI tạo ra kênh truyền tác động tích cực hữu hiệu đến nền kinh tế đất nước.
Những mặt hạn chế của khu vực FDI: Theo Hồng Phương Linh (2011), khu vực FDI gây tác động tiêu cực đến quốc gia tiếp nhận đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài có thể kiểm soát thị trường làm mất tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; FDI làm phá vỡ hàng rào thuế quan, tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các DN, làm chảy máu chất xám. 11 Theo Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương (2011); Đào Phú Quý (2014a); Bùi Trinh và Nguyễn Huy Minh (2015) thì hiệu quả sử dụng vốn FDI của Việt Nam khá thấp, việc chuyển giao công nghệ khá chậm chạp, chưa tạo được sức lan tỏa sang các khu vực kinh tế khác; Hiện nay, do các DN FDI của Việt Nam chủ yếu là gia công nên hàm lượng giá trị gia tăng còn thấp; Nhiều dự án FDI sử dụng công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm, tác động xấu đến môi trường – đây cũng là quan điểm của Bùi Quan Trọng (2012). Trong khi đó, theo Nguyễn Mại (2012) thì hoạt động FDI chưa phù hợp với quy hoạch phát triển của Việt Nam; Mặt khác, tình trạng “Cuộc chiến giữa các tỉnh, thành phố chào mời nhà đầu tư quốc tế” bằng những ưu đãi quá mức về thuế, tiền thuê đất. gây ảnh hưởng tiêu cực đến phúc lợi chung của cộng đồng.
Đặc biệt, cả Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương (2011); Bùi Quan Trọng (2012); Nguyễn Mại (2012); Bùi Trinh và Nguyễn Huy Minh (2015) đều thống nhất rằng: tình trạng “Lỗ giả lãi thật” thông qua hoạt động chuyển giá của các DN FDI nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận về nước ngày càng phổ biến, gây thất thu cho ngân sách. Đào Phú Quý (2014a) còn nhấn mạnh rằng: các DN FDI luôn báo lỗ và có dấu hiệu lạm dụng chính sách giá chuyển giao nội bộ để chuyển giá quốc tế. Từ thực tiễn hoạt động của khu vực FDI và tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung, địa phương Long An nói riêng, tác giả đồng tình với các nghiên cứu trên về vai trò của khu vực FDI đối với nền kinh tế của quốc gia tiếp nhận đầu tư, thông qua cả hai mặt tích cực và hạn chế của vấn đề. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO NỘI BỘ, ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO 2.
Chuyển giao nội bộ Theo Nguyễn Thanh Hải (2009), chuyển giao nội bộ là các nghiệp vụ mua bán qua lại giữa các công ty mẹ và công ty con hoặc giữa các công ty con với nhau. Các công ty con hoạt động ở nhiều quốc gia khác nhau, do đó, các giao dịch nội bộ giữa các công ty này diễn ra rất đa dạng và phức tạp với số lượng ngày càng lớn.