Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN SỰ NGHIỆP GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về KSC nguồn vốn sự nghiệp GTĐB qua KBNN 1. Khái quát về nguồn vốn sự nghiệp GTĐB 1. Khái niệm “Vốn SNGTĐB là vốn từ nguồn NSNN cấp cho các đơn vị hành chính sự nghiệp để chi sửa chữa, cải tạo, mở rộng nâng cấp giao thông đường bộ hiện có nhằm phục hồi hoặc tăng giá trị tài sản cố định (bao gồm cả việc xây dựng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở đã có của các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp)”.(Học viện tài chính, 2007) Vốn SNGTĐB là “…nguồn vốn có tính chất ĐTXD, được phân cấp quản lý về đến cấp huyện, tức là, NS quận, huyện được NS tỉnh, thành phố bố trí cho một khoản vốn sự nghiệp có tính chất ĐTXD và UBND quận, huyện được UBND tỉnh, thành phố phân cấp quyết định đầu tư với các dự án thuộc phạm vi này”.
Phân loại vốn chi sự nghiệp GTĐB * Vốn trong nước -Vốn NSNN: là vốn của NSTW và NSĐP, vốn này được hình thành từ vốn tích luỹ của nền kinh tế mỗi quốc gia và được Nhà nước duy trì trong kế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 6 hoạch NS để cấp cho các đơn vị thực hiện các công trình/dự án thuộc kế hoạch phát triển KT-XH Nhà nước. - Vốn doanh nghiệp: hình thành từ lợi nhuận để lại của các doanh nghiệp nhằm bổ sung cho vốn kinh doanh. Tổng sản phẩm trong mỗi quốc gia gắn với tốc độ tăng trưởng kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy mà vốn doanh nghiệp có vai trò quan trọng. - Vốn tư nhân: vốn này hình thành từ cá nhân hoặc hộ gia đình trong xã hội, vốn này có vai trò quan trọng khi vốn NS nhà nước không đủ thực hiện các hoạt động chi và phải huy động nguồn NS này.
* Vốn nước ngoài - Vốn đầu tư gián tiếp: gồm vốn từ các Chính Phủ, các tổ chức quốc tế như: Viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi với lãi suất thấp với thời hạn dài. Nguồn vốn được hình thành theo hình thức ODA các nước công nghiệp, đặc điểm vốn này thường lớn, khả năng đầu tư mạnh, nhanh nên thường giải quyết được nhu cầu đầu tư các nước nhận. - Vốn đầu tư trực tiếp (FDI): là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân từ các quốc gia khác sang đầu tư thực hiện quản lý trực tiếp việc sử dụng và thu hồi vốn. Đặc điểm vốn này thường không lớn, chỉ nhằm giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn.
Đặc điểm vốn giao thông đường bộ * Đặc điểm của giao thông đường bộ - Giao thông đường bộ thường là các công trình đầu tư có vốn lớn, thời gian thi công, thanh toán kéo dài, các hoạt động xây dựng đầu tư GTĐB thường được lấy từ NSNN, do các cấp NS quyết định. Thời gian kéo dài là do được tính từ khi bắt đầu thực hiện dự án đến khi dự án nghiệm thu hoàn thành và đưa vào sử dụng. Sản phẩm của GTĐB do nhà nước là chủ sở hữu, mục đích phát triển chung cho toàn bộ nền KT-XH của một quốc gia. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 7 - Vốn cho dự án GTĐB thường dàn trải vì thời gian thực hiện dự án dài, nếu bị ảnh hưởng điều kiện ngoại cảnh khi thi công dự án thì dự án còn kéo dài ngoài kế hoạch xây dựng.
- GTĐB được triển khai gắn với một địa bàn nhất định, phục vụ cho chính địa bàn được triển khai. - GTĐB thường có tính rủi ro cao bởi thời gian kéo dài, năng lực quản lý và điều hành dự án yếu, quy hoạch hạn chế…công trình không phát huy được hiệu quả cần thiết. * Đặc điểm của kết cấu hạ tầng đường bộ Thứ nhất, KCHTĐB là hàng hoá “công cộng” không thuần tuý, bởi nó có hai đặc tính: (i) không phân bổ theo các phần để sử dụng và (ii) khi sử dụng phải dùng chung trong cộng đồng xã hội. Do có tính “công cộng” của KCHTĐB, nên đã phân chia KCHTĐB thành nhiều loại như: đường cao tốc, đường tỉnh/huyện, đường quốc lộ,… với mức kỹ thuật khác nhau nhằm phục vụ nhu cầu giao thông khác nhau cho từng địa bàn; chi phí xây dựng khác nhau cho từng dự án nên bắt buộc cấp thẩm quyền phải thực hiện phân cấp QLDA và phân cấp quản lý vốn cho công trình.
Về chi phí thực hiện xây dựng KCHTĐB và lợi ích về mặt KT-XH thì KCHTĐB có lợi ích lớn hơn so với chi phí tạo ra, do vậy phải xây dựng KCHTĐB cho xã hội sử dụng chung. Các quốc gia nếu để thư nhân xây dựng làm cho việc phân biệt địa bàn đầu tư là điều dễ xảy ra, bởi họ chỉ chú trọng vào lợi nhuận và chỉ đầu tư ở nơi có điều kiện thuận lợi nhằm nhanh chóng bù đắp chi phí. Cho nên KCHTĐB do nguồn vốn NSNN sẽ đem lại sự phát triển đồng đều cho các địa phương, giúp cho khu vực kém phát triển có cơ hội được phát triển. Thứ hai, KCHTĐB có tính hỗ trợ và hệ thống lẫn nhau.
KCHTĐB được kết nối giữa các tuyến đường với nhau giữa đường bộ, đường biển, đường thủy, đường sắt, cảng hàng không,…. tạo thành hệ thống GTVT và KCHTĐB liên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 8 hoàn với nhau trong phạm vi địa lý. Chính vì vậy mà KCHTĐB được liên hoàn đã giúp ích cho công tác lập kế hoạch về tổng thể phát triển KCHT giao thông các quốc gia, khu vực, địa phương được xem xét và kết nối với nhau thông qua việc lưu thông chu huyển hàng hóa và phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, đáp ứng cả mục tiêu lợi ích KT-XH đem lại khi KCHTGT phát triển cho quốc gia, địa phương. Khi làm tốt được hệ thống KCHTGT sẽ thống nhất, đồng bộ cân đối giữa các loại đường, tuyến đường, hữu ích cho quá trình quản lý việc phân bổ, sử dụng vốn cho công trình GTĐB và công trình phụ trợ khác.
Thứ ba, KCHTĐB là loại TSCĐ có thời hạn sử dụng khó xác định và chịu tác động trực tiếp của điều kiện môi trường tự nhiên. Do là sản phẩn công cộng được sử dụng vốn của NSNN vào xây dựng nên KCHTĐB là TSCĐ của một quốc gia. Tuy nhiên để xác định việc khấu hao và xác định được thời hạn sử dụng rất khó đo lường bởi các công trình GTĐB phụ thuộc vào loại phương tiện, số lượng người đi lại,…Bên cạnh đó, các công trình GTĐB thường ở ngoài trời nên chịu tác động lớn bởi điều kiện thời tiết, khí hậu như hạn hán, lũ lụt, sạt lở, gãy, vỡ công trình… Thứ tư, KCHTĐB có tính chất cố định tại nơi ĐTXD, vốn lớn, thời gian hoàn thành dài. Công trình KCHTĐB được đầu tư cố định tại nơi xây dựng công trình, được phê duyệt xác định chính xác diện tích xây dựng, mốc giới.
Chi phí đầu tư lớn do công trình liên hoàn, các công trình mang tính chất trọng điểm lại càng lớn về quy mô xây dựng; thời gian thi công dài KCHTĐB ảnh hưởng bởi công tác GPMB, kỹ thuật phức tạp…Do vậy mà tạo ra thách thức các nhà quản lý, hoạch định chính sách trong việc làm tốt công tác thực hiện quy hoạch, chuẩn bị các kế hoạch với thời gian trung và dài hạn. * Đặc điểm của vốn giao thông đường bộ - Vốn ĐTXD GTĐB được sử dụng từ NSNN, được cân đối trong phạm vi NSNN do đó mà cần chú trọng trong quá trình quản lý vốn, tiến độ, chất lượng dự án GTĐB, NNL thực hiện,…đầu tư vốn cho GTĐB được quy định riêng và không làm ảnh hưởng đến nguồn vốn của lĩnh vực khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 9 - Vốn ĐTXD cho GTĐB được sử dụng trong thời gian dài điều này bắt nguồn từ đặc điểm của GTĐB, do đó phải có phương pháp sử dụng và quản lý vốn sao cho hiệu quả, tránh lãng phí, đặc biệt thất thoát, làm cho chất lượng công trình dự án giảm sút. - Vốn cho GTĐB được đo lường hiệu quả thông qua hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, tuy nhiên đây là công trình dự án GTĐB công cộng nên hiệu quả xã hội được ưu tiên chú trọng, nhất là các công trình dự án GTĐB ở vùng khó khăn, hẻo lánh hoặc địa hình hiểm trở,…hiệu quả được đo lường gián tiếp thông qua hiệu quả các ngành khác trong nền kinh tế.
Vai trò của vốn giao thông đường bộ Theo tác giả Hồ Thị Hương Mai: “Các công trình giao thông đều là các công trình mang tính đơn chiếc, trải dài trên phạm vi không gian rộng lớn, chúng kết nối với những vùng, lãnh thổ, địa phương khác với nhau. Do chịu ảnh hưởng của tự nhiên, yêu cầu kỹ thuật phức tạp và độ bền cao, thời gian sử dụng lâu dài và tần suất sử dụng lớn, nên các công trình này đều có giá thành rất cao. Một số công trình giao thông trong đô thị phải xây dựng đồng bộ từ lòng đường, vỉa hè, biển báo giao thông, hệ thống thoát nước, để đảm bảo giao thông an toàn và hiệu quả, ở đô thị là nơi có mật độ dân cư đông đúc và nhiều công trình xây dựng sẵn có, nên việc giải phóng mặt bằng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi lượng tỷ lệ vốn lớn hơn, thời gian thi công cũng sẽ kéo dài hơn.Các công trình giao thông được đầu tư cho mục đích công cộng, phục vụ cho việc đi lại và vận chuyển hàng hoá. Với giá trị đầu tư rất lớn nhưng các khoản thu từ công trình như phí sử dụng đường bộ lại lại phải tính toán cân đối phù hợp với tính hình kinh tế vùng miền, địa phương, thậm chí thường là không thu phí nên các công trình có thời gian thu hồi vốn dài hoặc không thu hồi được vốn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 10 Đây là đặc điểm nổi bật dẫn đến việc đầu tư từ NS ngày càng tăng, chưa thu hút các nguồn vốn khác” (Hồ Thị Hương Mai, 2015). Như vậy có thể thấy, vốn cho hoạt động đầu tư trong phát triển KCHTĐB mang tính rủi ro cao do thời gian thực hiện dài, dàn trải, do vậy mà phụ thuộc vào phương thức và chính sách huy động vốn sử dụng trong công trình GTĐB.