MỞ ĐẦU Ngày nay, các hoạt động nhân sinh làm tăng nồng độ các khí nhà kính và thậm chí làm xuất hiện các khí nhà kính mới dẫn đến hiện tượng hiệu ứng nhà kính xảy ra mạnh mẽ, đẩy nhanh sự biến đổi khí hậu đang được xem là một trong những vấn đề môi trường toàn cầu nghiêm trọng nhất. Để giải quyết vấn đề này, Liên hợp quốc luôn cố gắng tìm phương pháp để kiểm soát và giảm thiểu lượng khí thải nhà kính trên toàn Thế Giới. Từ đó, LHQ đã đưa ra phương pháp để tính toán lượng khí thải nhà kính hàng năm cho các quốc gia, các tổ chức một cách dễ dàng và đúng đắn hơn. Việt Nam hiện là một nước đang phát triển với tốc độ nhanh trên Thế Giới.
Trên đà phát triển đó, Việt Nam luôn xác định các mục tiêu trọng tâm và từ đó xây dựng các dự án trọng điểm quốc gia. Liên hợp Lọc Hóa Dầu Nghi Sơn sẽ là nhà máy lọc dầu thứ 2 được xây dựng tại Việt Nam sau Dung Quất chính là một trong các dự án trọng điểm như thế. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Đây là một dự án trọng điểm quốc gia góp phần đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng cho cả nước” (Bản tin dầu khí Việt Nam ngày 3/3/2009). Việc xây dựng Liên hợp Lọc Hóa Dầu Nghi Sơn tại Tĩnh Gia – Thanh Hóa không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh và thành phố ở miền Bắc Trung Bộ nói riêng và cả nước nói chung mà còn đáp ứng được tính cấp thiết về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong tương lai.
Việc thực thi Dự án Liên hợp Lọc Hóa dầu Nghi Sơn sẽ mang lại các lợi ích sau: • Đóng góp vào chương trình an toàn năng lượng quốc gia bằng cách sử dụng nguồn dầu thô được nhập khẩu dài hạn khoảng 10 triệu tấn/năm làm nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất nhiều loại nhiên liệu và sản phẩm hóa dầu; • Sản phẩm của Liên hợp bao gồm xăng Mogas (2,1 triệu tấn/năm), dầu Diesel (2,7 triệu tấn/năm), khí hóa lỏng LPG (1,4 triệu tấn/năm), cùng với các loại nhiên liệu máy bay/dầu hỏa, dầu nhiên liệu và các sản phẩm hóa dầu. Khi dự 7 z án đi vào hoạt động từ năm 2013, sản phẩm của dự án và của nhà máy lọc dầu đầu tiên tại Việt Nam (Dung Quất) có thể đáp ứng được 50% nhu cầu về nhiên liệu của cả nước; • Tạo tiền đề cho sự phát triển của các ngành công nghiệp hóa dầu, các ngành liên quan và một số dịch vụ khác; • Thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội phía Nam Thanh Hóa, phía Bắc Nghệ An và các tỉnh lân cận; • Tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động trong giai đoạn xây dựng, và hàng nghìn người trong giai đoạn hoạt động. Dự án Liên hợp Lọc Hóa Dầu Nghi Sơn và các công trình liên quan được thiết kế theo các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt hơn nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất các phát thải vào môi trường không khí, nước và đất. Các yêu cầu này tuân thủ theo pháp luật Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc tế bao gồm Ngân Hàng Thế Giới/Tổ Chức Tài Chính Quốc Tế (WB/IFC) cũng như các công ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã tham gia ký kết.
Tuy nhiên, dưới góc nhìn của môi trường và BĐKH, trong quá trình xây dựng và vận hành Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn không thể tránh khỏi việc phát thải ra các khí nhà kính như CO 2 , N 2 O, HFCs, PFCs, CH 4. Vì thế, đề tài mang tên “Kiểm kê phát thải khí nhà kính của Dự án Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn” được xây dựng nhằm mục đích áp dụng chương trình tính toán lượng phát thải khí nhà kính của LHQ (phương pháp này đã được sử dụng trong dự án "United Nation Climate Neutral Initiative") để kiểm kê phát thải khí nhà kính của Dự án trong quá trình xây dựng và vận hành; xây dựng khung cơ sở dữ liệu kiểm kê phát thải để kiểm kê khí thải nhà kính hàng năm cho Dự án và có thể phát triển áp dụng trong các Dự án tương tự. TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tổng quan về Dự án Khu Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP) Hiện nay, nhu cầu sử dụng nhiên liệu của Việt Nam đang ngày càng tăng cao, đặc biệt là các sản phẩm từ dầu mỏ.
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng xăng dầu trong nước và phục vụ xuất khẩu, Việt Nam đã tiến hành xây dựng liên tiếp 02 nhà máy lọc hóa dầu: dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất thuộc tỉnh Quảng Ngãi (đã chính thức đi vào hoạt động từ tháng 2/2009) và dự án Khu Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn (khởi công xây dựng vào tháng 5/2008 và hiện đang trong quá trình hoàn thiện mặt bằng để xây dựng) tại Khu Kinh tế Nghi Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hóa. Theo dự kiến của tiến độ ban đầu, dự án Khu Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn sẽ đi vào hoạt động từ năm 2013 và sản phẩm của dự án cùng với Nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ đáp ứng được 50% nhu cầu về nhiên liệu của cả nước. Hình 1: Thi công hoàn thiện mặt bằng nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn Dự án Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn do 4 đơn vị kinh tế lớn tham gia góp vốn đầu tư là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) với 25,1% vốn, Tập 9 z đoàn Dầu khí quốc tế Kuwait (KPI) với 35,1% vốn, Tập đoàn Dầu khí Idemitsu Kosan Nhật Bản (IKC) với 35,1% vốn và Tập đoàn Hóa chất Mitsui Nhật Bản (MCI) với 4,7% vốn. 4 đơn vị trên đã quyết định hợp tác Liên doanh mang tên “Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn” để cùng phối hợp thực hiện dự án [6].
Vị trí địa lý [6] Dự án NSRP nằm trong Khu kinh tế Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Khu vực Dự án cách Hà Nội 200km về hướng Nam và cách thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) 80km về hướng Bắc. Tổng diện tích khu vực dự án phần trên bờ khoảng 394 ha và diện tích phần ngoài khơi khoảng 259ha. Khu vực nhà máy rộng 328ha nằm trên địa bàn của 03 xã: Mai Lâm, Hải Yến và Tĩnh Hải.
Phần lớn đất trong khu vực mặt bằng là đất nông nghiệp và đất thổ cư. Tiếp giáp với mặt bằng nhà máy là các khu vực sau: • Phía Bắc nhà máy tiếp giáp với khu dân cư xã Tĩnh Hải và xã Mai Lâm. • Phía Nam nhà máy tiếp giáp với khu dân cư của xã Hải Yến. • Phía Đông nhà máy tiếp giáp với khu dân cư của xã Hải Yến.
• Phía Tây nhà máy tiếp giáp với đường tỉnh lộ 513 chạy từ Quốc lộ 1A đến cảng tổng hợp Nghi Sơn. Sát bên phải đường 513 là núi Cam và núi Chuột Chù. 10 z Hình 2: Vị trí và tọa độ của khu vực Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn 1. Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội [6] 1.
Điều kiện tự nhiên: a. Điều kiện địa hình, địa chất và địa chấn - Địa hình Khu vực Nghi Sơn có địa hình đa dạng, chia thành các loại chính sau: Các núi và đồi tại phía Tây và Tây Nam của khu vực dự án có cao độ trung bình từ 100 m đến 560 m, hình thành bởi đá trầm tích nâu đỏ kỷ Phấn Trắng. Nó bao phủ một diện tích khoảng 5.100 ha ở các núi Chuột Chù và núi Xước, trong đó đồi núi trọc chiếm 2.225 ha, đất trồng rừng theo kế hoạch là 2.548 ha, thảm thực vật thưa và thấp là 327 ha. Đồng bằng ven biển với các đụn cát cao 2 - 6m gồm 1.278 ha đất trồng trọt, 180 ha đất tự nhiên và 800 ha đất thổ cư.
Nhìn chung, khu vực này bằng phẳng, ít có khả năng ngập lụt. 11 z Vùng hạ lưu sông Lạch Bạng có địa thế bằng phẳng, thoải dần ra biển. Các sông Lạch Bạng và Hà Nam thường xuyên ngập trong nước biển. Khu vực nuôi trồng thủy sản dọc các sông này chiếm khoảng 94 ha.
Vùng này thuộc về các xã Hải Bình, Hải Thượng và Hải Hà. Khu vực đảo Nghi Sơn có nước biển nông và gần các đảo ven bờ. Đảo Nghi Sơn dài 4,5 km, trải dài theo hướng Nam-Bắc. Địa hình của đảo chủ yếu là đồi núi.
Đường bờ biển khu vực Nghi Sơn – Thanh Hóa tương đối bằng phẳng xen kẽ giữa dải đồng bằng nhỏ hẹp là các khối núi sót nhô ra biển như hòn Tròn, mũi Lạch Bạng, đảo Nghi Sơn,.Hình thái đường bờ là cong lõm về phía đất liền. Đặc trưng động lực hình thái bờ biển là do sóng đóng vai trò chủ yếu, tạo ra dải địa hình ven bờ phát triển các cồn cát, đụn cát. Địa hình bờ biển khu vực phát triển trên nền cấu trúc Tân kiến tạo lập lại Việt – Lào thuộc đới uốn nếp Paleozoi-Mesozoi Việt Lào. Sườn bờ biển dốc và nghiêng thoải dần về phía Đông, sâu trung bình -17m, sâu nhất là dải trũng phía Tây đảo hòn Vàng kéo dài theo phương Bắc Nam, rộng khoảng 500-1000m, sâu đến -29m.
Trong vịnh Nghi Sơn có quần đảo Hòn Mê cách bờ khoảng 14,5km bao gồm các đảo: Hòn Mê, Hòn Miệng, Hòn Sổ, Hòn Bung, Hòn Hợp, Hòn Vát và một số đảo nhỏ khác. Hòn Mê là đảo lớn nhất, có diện tích trên 17km2, với bề rộng hướng Đông-Tây và hướng Bắc-Nam là 2,27 km. Đỉnh cao nhất của Hòn Mê là 251 m. Quần đảo này tạo thành một bức tường tự nhiên che chắn một phần sóng hướng Đông và Đông- Bắc cho vùng đảo Nghi Sơn.
Tại khu vực có một vũng sâu, cao độ tự nhiên đạt tới -30 m đến -32 m, đường kính của vũng khoảng 200 - 300 m. Vũng này cách bờ khoảng 12,5 km. Phía Bắc đảo Hòn Mê, độ sâu vẫn đạt -20 m đến -22 m và nông dần với cao độ tự nhiên khoảng -18 m đến -19 m. Trầm tích hình thành lên bề mặt đáy biển là cát lẫn sét, cát hạt nhỏ; phần gần cụm đảo hòn Mê có lẫn trầm tích sinh vật (san hô), dày 1,5-2m.
- Địa chất 12 z Địa chất khu vực Nghi Sơn có những đặc điểm sau: Hệ thành Cẩm Thủy nằm ở phần phía Đông của đảo Hòn Mê. Thành tạo này bao gồm đá bazan biến đổi, thấu kính đá vôi, khối phun trào của thời kỳ hoán vị muộn với độ dày khoảng 300-400 m. Hệ thành Đồng Trầu được phân bố ở phần phía Tây của Quốc lộ 1A. Thành phần của nó bao gồm lớp cát, lớp bùn-sét bên trong, lớp đá vôi dày dưới đáy và lớp đá vôi-biển bên trên.