CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VE CAC BIEN PHAP KHUYEN KHÍCH ĐẦU TƯ VA PHAP LUAT VE KHUYEN KHÍCH ĐẦU TU CUA VIỆT NAM 1. Khai quát về các biện pháp khuyến khích đầu tư 1. Khái niệm và phân loại đầu tư 1. Khải niệm Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội.
Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu rất khác nhau. Có quan điểm cho rằng đầu tư là phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định dé thu lại một lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có quan điểm lại quan niệm đầu tư là các hoạt động sản xuất, kinh doanh để thu lợi nhuận. Thậm chí thuật ngữ này thường được sử dụng rộng rãi, như câu “cửa miệng” dé nói lên chi phí về thời gian, sức lực va tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.
Vậy đầu tư theo đúng nghĩa của nó là gì? Những đặc trưng nào quyết định một hoạt động của con người được gọi là đầu tư? Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì, đầu tư là khái niệm chỉ một việc “bỏ nhân lực, tài lực, vật lực vào một công việc gì dựa trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội” [10,tr. Như vậy, đầu tư bao giờ cũng có chủ thể, đối tượng, mục đích và cách thức thực hiện xác định, tuy nhiên khái niệm này còn khá chung chung và không làm toát lên được bản chất của hoạt động đầu tư. Dưới góc độ khoa học kinh tế, đầu tư được hiểu là “khâu dau tiên trong quá trình sản xuất, kinh doanh của một chủ thé dau tư, là chỉ phi ban dau phục vụ một đối tượng nào đó, được sử dụng một cách có mục đích nhằm thỏa mãn nhu cau của chủ đầu tư” [8, tr. Với cách hiểu này, đầu tư lại được bó gọn trong một khâu của hoạt động kinh tế và nó chỉ đơn thuần là hoạt động bỏ vốn ban đầu dé hướng tới kết quả của quá trình sản xuất, kinh doanh.
Có quan điểm lại cho rằng đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực vốn lớn hơn. Trong phạm vi doanh nghiệp, đầu tư là việc di chuyển vốn vào một loại hoạt động nào đó nhằm mục đích thu lại khoản lợi nhuận lớn hơn. Cũng có quan điểm coi đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời gian tương đối dài nham thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh té- xã hội. Lại có quan điểm khang định đầu tư là việc bỏ vốn vào một cơ sở sản xuất, một công trình xây dựng hay một đơn vị sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như: Cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới,.nhằm thu đoanh lợi (lợi nhuận doanh nghiệp) hay phát triển phúc lợi công cộng [1,tr7-8].
Dưới góc độ pháp lý, theo khoản 1 Điều 3 Luật Dau tư năm 2005 thi: “dau tư là việc nhà dau tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức va cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác ”. Định nghĩa đầu tư trong Luật Đầu tư năm 2005 là khá rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời song xã hội. Do đó, đến Luật Dau tư năm 2014, các nhà làm luật đã thu hẹp khái niệm đầu tư của Luật Đầu tư năm 2005, chỉ điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh, theo đó tại khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 quy định: “Đẩu f kinh doanh là việc nhà dau tư bỏ vốn dau tư đề thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tô chức kinh tế; đấu tư góp vốn, mua cô phan, phan vốn góp của tô chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đông hoặc thực hiện dự án đầu tư.” Với việc thu hẹp khái niệm đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư, khái niệm đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư 2014 đã quy định cụ thé, chi tiết và khái quát được hết các nội hàm đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư 2014. Mặc dù vẫn còn có khá nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm đầu tư, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều học giả nghiên cứu về van dé đầu tư thừa nhận, đó là: “Đầu tr là việc sử đụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai,.
vào một hoạt động kinh tế cụ thể bằng nhiều cách thức khác nhau nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận ” [9, tr. Phân loại đầu tư * Căn cứ vào mức độ tham gia quản lý của nhà đầu tr vào đối tượng bo von, đầu tu được chia ra 2 cách thức đầu tư sau: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. - Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. - Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cô phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là hoạt động đầu tư hay không phải là hoạt động đầu tư, đó là: Tính sinh lãi (sinh lời) và độ rủi ro của công cuộc dau tư. Thực tế, con người không thé bỏ ra một lượng tài sản mà lại không dự tính thu được giá tri cao hơn giá tri bỏ ra ban đầu. Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi (sinh lời) thì trong xã hội, ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính vì vậy, hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đây kinh tế- xã hội phát triển.
Qua hai đặc trưng trên cho thấy, rõ ràng mục đích của hoạt động đầu tư là lợi nhuận. Vì thế, cần hiểu rằng bất kỳ sự chi phí nào về thời gian, sức lực và tiền bạc vào một hoạt động nào đó mà không có mục đích thu lợi nhuận thì không phải là hoạt động đầu tư và không thuộc phạm vi của khái niệm đầu tư. * Căn cứ vào nguồn gốc vốn và quốc tịch của nhà đầu tw: Đầu tư được chia thành DTTN và DTNN. - Đầu tư trong nước.
Khái niệm DTTN là khái niệm chủ yếu thể hiện nguôn gốc địa lý của vốn và quốc tịch gắn với nơi định cư của chủ sở hữu vốn đầu tư. Trong xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa các hoạt động thương mại, hâu như không có nước nào đứng ngoài luông vận động tài chính và đâu tư quốc tế. Do đó DTTN và DTNN được phân biệt dé nhận biết được nguồn đầu tư và vai trò của nó đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia. + Theo đó, ĐTTN được hiểu là nguồn vốn đầu tư trong phạm vi lãnh thé một quốc gia bởi các chủ sở hữu vốn đầu tư là tổ chức, cá nhân trong nước.
Theo nghĩa rộng, ĐITN được hiểu là mọi nguồn vốn đầu tư của t6 chức, cá nhân trong nước, người định cư ở một quốc gia được sử dụng trong lãnh thổ quốc gia đó. + Theo quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật Đầu tư 2005, ĐTTN là việc nhà DTTN bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác dé tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Đặc trưng quan trọng nhất của DTTN là chủ thé là các nhà DTTN và không có sự đi chuyên vốn qua biên giới. Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2005 không giải thích như thé nào là nhà ĐTTN.
Điều này dẫn đến cách hiểu, người nước ngoài định cư ở Việt Nam và bỏ vốn đầu tư ở Việt Nam cũng được coi là DTTN. Theo như quy định nay, căn cứ quan trọng nhất dé phân biệt DTTN và DTNN là sự dich chuyển nguồn vốn trong phạm vi địa lý của mỗi quốc gia. + Theo quy định tại khoản 15, Điều 3, Luật Đầu tư 2014, ĐTTN là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tô chức kinh tế không có nhà DTTN. Luật 2014 khắc phục điểm không rõ ràng tại Luật Đầu tư 2005, theo tinh thần không phân biệt DTTN và DTNN, do đó Luật Dau tư 2014 chỉ quy định thé nào là nhà DTTN, việc xác định tư cách nhà DTTN được dựa vào quốc tịch của chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư.
- Đầu tu nước ngoài. Thuật ngữ DTNN không phải là một thuật ngữ mới, mà nó đã được nhắc đến từ những năm 60 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, nó không được sử dụng nhiều cho đến mãi thập kỷ 80 của thé ky XX, khi xu thé toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế- thương mại- đầu tư ngày càng phát triển mạnh mẽ thì thuật ngữ DTNN mới thực sự trở nên phô biến. 10 + Dưới góc độ kinh tế, ĐTNN là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ quốc gia này sang quốc gia khác để sản xuất, kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao.
+ Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ ĐTNN đầu tiên được dé cập đến trong các sách chuyên khảo về tư pháp quốc tế, sau đó được sử dụng trong các cuộc Hội thảo quốc tế và sau đó được quy định trong pháp luật của các quốc gia, với những quy định cụ thể về DTNN. Bên cạnh đó, thuật ngữ DTNN còn được ghi nhận trong các hiệp định đa phương, hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau mà các quốc gia ký kết với nhau. Tuy nhiên, do những đặc tính riêng phức tạp và do sự vận động phong phú của thực tiễn nên thuật ngữ DTNN được hiểu và nhìn nhận khác nhau, do đó cũng được quy định khác nhau trong pháp luật mỗi quốc gia. + Năm 1966, tại Hội thảo của Hiệp hội Luật quốc tế ở Henxinky (Phần Lan) đưa ra định nghĩa về DTNN như sau: “Đầu tu nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người dau tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ”.
Định nghĩa trên về ĐTNN mặc dù ngắn gọn nhưng chưa khái quát được các đặc trưng của hoạt động DTNN. Nói cách khác, định nghĩa này chưa đặt ra va đi vào thực chất của vẫn đề hoạt động ĐTNN.