CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THUC TIEN VE CHÍNH SÁCH THUC DAY KHAI THAC SÁNG CHE TRONG DOANH NGHIEP 1. Khái niệm sáng ché Sáng chế không phải là một khái niệm mới. Trong ấn phẩm số 917 ra ngày 17/10/2006 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO có định nghĩa: “Sáng chế là một giải pháp mới va sáng tạo cho một van dé kĩ thuật.
SC có thê là việc tạo ra một thiết bị, sản phẩm, phương pháp hay quy trình hoàn toàn mới, hoặc đơn giản chỉ là cải tiến một sản phẩm, quy trình đã có” [56, tr. Theo Vũ Cao Đàm: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật mang tính mới về nguyên ly kỹ thuật, sáng tạo va ap dụng được” [1, tr. Trong định nghĩa nay nhấn mạnh ba yếu tố: tính mới, sang tao và van dé kĩ thuật. Trước hết, SC là một giải pháp kĩ thuật, tức là phải góp phần giải quyết một van dé kĩ thuật cụ thé.
Khác với một số quốc gia công nghiệp phát triển phương Tây như Hoa Kỳ, Pháp đều không trực tiếp định nghĩa SC, trong văn bản pháp lý của một số quốc gia Châu Á đã đưa ra khái niệm về SC: Theo Điều 2 Luật sáng chế của vương quốc Nhật Bản, sáng chế “là sự sáng tạo vượt bậc của những ý tưởng kĩ thuật dựa trên việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” [57, điều 2]. Luật Sáng chế của Trung Quốc cũng định nghĩa trực tiếp sáng chế “là các giải pháp kỹ thuật mới dưới dạng một sản phẩm, một quy trình hoặc việc cải tiến sản phẩm và quy trình đó” [58, điều 2]. Theo Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009, Khoản 12 Điều 4 đưa ra khái niệm về sáng chế như sau: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dang sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” [14, điều 4]. Trong khái niệm này, thuộc tính cơ bản của sáng chế là đặc tính kỹ thuật.
Sáng chế có thê được thể hiện dưới dạng sản phẩm (vật thể, chất thẻ, vật liệu sinh học) hoặc quy trình phương pháp. 12 Từ các quy định pháp lý nói trên, có thé rút ra rang SC là sản phẩm hay quy trình do con người tạo ra, thuộc tính cơ bản của SC là đặc tính kỹ thuật bởi vì SC là giải pháp kỹ thuật để giải quyết một vấn đề xuất phát từ nhu cầu cuộc sống và phục vụ cuộc sông. Như vậy, sáng chế có thê hiểu là sản phẩm được sáng tạo bởi con người thông qua việc ứng dụng các quy luật của tự nhiên. Thuộc tính cơ bản của sáng chế là đặc tính kỹ thuật bởi vì SC là giải pháp kỹ thuật, tức là biện pháp kỹ thuật giải quyết một vấn đề.
Bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với sáng chế Sáng chế là một tài sản đặc biệt, đó là sản phẩm của sáng tạo, là kết quả đầu tư nghiên cứu khoa học của tác giả SC. Là một tài sản vô hình nên không giống như những tài sản hữu hình khác, SC rất dé bị đánh cắp, sao chép, bat chước. Vi vậy, bảo hộ SC là một yêu cầu tất yếu. Sáng chế được bảo hộ bởi bằng độc quyền SC do co quan nhà nước có thâm quyền (hoặc một cơ quan nhân danh một quốc gia) cấp trên cơ sở một đơn yêu cầu bảo hộ, trong đó mô tả SC và thiết lập một điều kiện pháp lý mà theo đó SC đã được cấp băng độc quyền chỉ có thé được khai thác một cách bình thường (sản xuất, sử dụng, bán, nhập khẩu) với sự cho phép của chủ sở hữu bằng độc quyền SC.
Tại một số ít quốc gia, SC cũng có thể được bảo hộ thông qua việc đăng ký dưới tên gọi “mẫu hữu ích”. Những tiêu chuẩn bảo hộ đối với mẫu hữu ích trong chừng mực nào đó ít nghiêm ngặt hơn so với SC, đặc biệt đối với tính sáng tạo, lệ phí cũng thấp hơn, thời hạn bảo hộ cũng ngắn hơn ngoài ra các quyền theo mẫu hữu ích cũng tương tự như các quyền đối với SC được cấp bang độc quyền SC. Bằng độc quyền SC thường được coi như “độc quyền”. Một khi bang độc quyền SC đã được cấp, chủ sở hữu bằng độc quyền SC đó sẽ có quyền gọi là quyền SHCN đối với SC.
Gọi là bảo hộ vì người chủ bang độc quyền SC được bảo vệ chống lại việc khai thác SC khi người đó chưa cho phép. Ban 13 chat của việc bảo hộ là dé đồi lay độc quyền. Vì vậy, bộc 16 SC là yếu tố quan trọng cần được xem xét trong bat kỳ quá trình cấp bằng độc quyền SC. Ở Việt Nam, SC được bảo hộ độc quyền dưới hình thức cấp Bằng độc quyền SC nếu đáp ứng các điều kiện như có tinh mới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng công nghiệp.
Ngoài ra SC còn được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền GPHI nếu có tính mới, có khả năng áp dụng công nghiệp. Giải pháp hữu ích thực ra là một SC nhỏ, với trình độ sáng tao không cao bang sáng chế [14, điều 58]. Bao hộ SC bị giới han theo lãnh thô và theo thời gian. Sự bảo hộ theo lãnh thổ có nghĩa là SC chi có hiệu lực trên lãnh thé quốc gia ma SC đó đã được cấp.
Sự bảo hộ theo thời gian có nghĩa là thời gian bảo hộ có giới hạn, thường là 20 năm tính từ ngày nộp đơn, với điều kiện là nộp phí duy trì hiệu lực đúng thời hạn. Nhà nước trao độc quyền SC nhưng Nhà nước không tự động thực thi độc quyền SC, mà điều này phụ thuộc vào chủ sở hữu SC. Dé bảo vệ quyền SC của mình, chủ sở hữu có thé yêu cầu cơ quan Nhà nước có thâm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN với SC của mình. Tóm lại, bảo hộ quyền SHCN đối với SC là việc Nhà nước - thông qua hệ thống pháp luật - xác lập quyền của các chủ thể (có thể là tổ chức hoặc cá nhân) đối với SC và bảo vệ quyền đó, chống lại bat kì sự vi phạm nào của người khác.
Khai thác sáng chế trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về khai thác sáng chế trong doanh nghiệp Đến nay, thuật ngữ “Khai thác sáng chế” chưa được đề cập chính thức trong bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào của Việt Nam. Sáng chế là một dạng của tài sản trí tuệ. Khai thác tai sản trí tuệ là việc đưa các tài sản trí tuệ vào áp dụng, sử dụng trong thực tế nhằm tạo ra các lợi ích, ưu thế cho chủ sở hữu, người tham gia vào việc áp dụng, sử dụng tài sản trí tuệ đó và cho xã hội.
Do đó, khai thác SC có thé được hiểu là việc sử dụng các thông tin, công dụng của SC, kha năng tiềm tang của SC dé đưa SC vào sử dụng nhằm tạo ra lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu SC và các bên có liên quan 14 trên tình thần tự nguyện, có hướng đích và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành [8, tr. Theo Điều 124 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bỗ sung năm 2009) thì sử dung SC là việc thực hiện các hành vi như: Sản xuất sản phẩm được bảo hộ; áp dụng quy trình được bảo hộ; khai thác công dụng của sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ; lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm và nhập khẩu sản phẩm. Dé khai thác thương mại đối voi SC thì trước tiên SC phải được cấp băng độc quyền SC và chỉ có thể được khai thác khi chủ sở hữu tự khai thác hoặc cho phép khai thác trên phạm vi quốc gia/lãnh thô cấp bằng. Như vậy, pháp luật SHTT chưa có quy định cụ thể khái niệm khai thác SC.
Tuy nhiên, căn cứ các quy định liên quan, có thê hiểu khai thác SC trong DN là hoạt động khai thác các khía cạnh thương mại của SC thông qua các hình thức như DN tự mình khai thác SC, chuyển nhượng quyền sở hữu SC, chuyền giao quyền sử dung SC, hoặc thực hiện thé chấp, góp vốn kinh doanh, thành lập DN bằng quyền SHCN đối với SC nhằm mục đích thu lợi nhuận. Vai trò của khai thác sáng chế trong doanh nghiệp Dé hoạt động khai thác SC có hiệu quả thì cần phải lấy DN làm trung tâm, tư tưởng này đã được GS. Hoàng Văn Phong - người đã có đóng góp lớn vào sự hình thành và phát triển chuỗi giá trị cho hoạt động KH&CN nói chung, khai thác SC và ĐMST nói riêng: “Chỉ có qua tay DN, sức mạnh của ngành khoa học, công nghệ mới được bộc lộ và phát huy. Nhưng chỉ doanh nghiệp thì chưa đủ mà nhà lãnh đạo quốc gia cũng phải quan tâm tới khoa học, công nghệ theo hướng đổi mới” ! Trong phạm vi DN, khai thác SC giúp DN đây nhanh tiến trình tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm; tăng cường khả năng cạnh tranh thông qua khai thác SC như cấp quyền sử dụng, hợp tác, liên doanh.
Như vậy, vai trò của khai thác SC được thê hiện trên các khía cạnh sau: ! Nguyên là Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Phái viên tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực khoa học và công nghệ; Chủ tịch Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia. 15 - Thứ nhất, sáng chế - một tài sản của doanh nghiệp Tài sản của DN có thể được chia thành 2 loại: tài sản hữu hình — bao gồm nhà xưởng, máy móc, cơ sở hạ tầng. và tài sản vô hình — được tinh từ nguồn nhân lực, bí quyết kỹ thuật, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, SC. Theo truyền thống, tài sản hữu hình là tài sản chính của DN và có ý nghĩa quyết định khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường.
Trong những năm gần đây, do thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 các DN đang nhận ra rằng tài sản vô hình trở nên có giá trị hơn so với tài sản hữu hình của mình đặc biệt trong các công ty hoạt động trong các lĩnh vực có hàm lượng tri thức, có tính sáng tạo cao. Do đó, tài sản vô hình đóng vai trò trung tâm và DN cần phải tìm ra cách thức sử dụng tốt nhất các tài sản vô hình của mình.