CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE ĐÔ THỊ HÓA VÀ KHÁI QUAT QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHÓ NHA TRANG TRƯỚC 1986. Đô thị và đô thị hóa: 1.1 Đô thị: Đô thị là một thực thể đã xuất hiện trong lịch sử loài người từ xa xưa, từ khi mà ở nơi này, nơi khác bắt đầu hình thành một cách thức sinh hoạt khác biệt với nếp sinh hoạt khác biệt với nếp sinh hoạt vẫn hằng tôn tại ở thôn quê với nền sản xuất nông nghiệp. Những thực thể hình thành nên đồ thị sau một quá trình chuyén động tống hợp của những điều kiện ban đầu như sự định cư và tăng dân số trên một vùng nảo đó, hoặc là do công nghiệp, thương mại phát triển. Trong các điều kiện ấy, trạng thái định cư dan dần biến đổi về chất, từ cộng đồng tập trung ở địa phương, cô lập, tự cung tự cắp với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, trở thành một hình thái tập trung dân cư với những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp.
Như vậy có thể hiểu đô thị là nơi tập trung dân cư, với mật độ dân số cao và đa số những người lao động phi nông nghiệp, dân cư sống và làm việc theo lối sống thành thị. Khái niệm trên về đô thị hóa chứa đựng những tiêu chí cơ bản nhất biểu thị sự phát triển về lượng (hình thức) và về chất (nội dung) của các đô thị. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ hoc, đô thi là “noi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả nông nghiệp, thành phế hoặc thị trắn“[27] SVTH: Nguyễn Thị Thơm Trang 14 Khóa iuận tốt nghiệp GVHD: TS Lê Văn Đạt Hiện nay ở Việt Nam, thuật ngữ đô thị dùng để gọi chung cho tắt cả các thành phố, thị xã, thị trắn. Theo các tác giả của công trình Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, đô thị là "điểm dân cư tập trung với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có ha tang cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngảnh tổng hợp, có vai trò thúc day sự phát triển kinh tế- xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một huyện hoặc một vùng trong tinh, huyén"[27] Thực tế tên gọi đô thị có xuất xứ từ lich sử hình thành các đô thị cổ Việt Nam.
Các đô thị cổ Việt Nam được hình thành từ ba yếu tế là đô, thành và thị. Đô chính là nơi làm việc của bộ máy quan lại triều đình phong kiến ở trung ương và địa phương, cũng là nơi ở của vua quan, gia đinh và dòng tộc. Thanh là những yếu tố bảo vệ cho *đô”. Đó là các thành quách và đơn vị quân đội thường trực có nhiệm vụ canh gác và bảo vệ "đô".
Thi dùng để chỉ thị trường buôn bán hàng hóa. Có "thành" và “đô” tat yếu phải có trao đổi, buôn bán và nơi tập trung buôn bán chính là các chợ. Việc xuất hiện của chợ sẽ kéo theo sự tụ tập dân cư và cơ sở kinh tế khác, nhất là tiểu thủ công nghiệp. Ngày nay, với sự phát triển của các phương tiện bảo vệ hiện đại, các thành quách không còn là phương tiện bảo vệ hiệu quả nữa, nên khi xây dựng các đô thị, người ta không xây dựng các thành quách bao quanh.
Bên cạnh đó, các lực lượng bảo vệ như quân đội, cảnh sát cũng trở thành một đơn vị trong "đô". Chinh vì vậy, "thành” không còn đóng vai trò quan trọng trong đô thị hiện đại, ma thay vào đó là các yếu tố thuộc về hạ tang như giao thông, điện nước, nhà cửa, giáo dục, y té, văn hóa. SVTH: Nguyễn Thị Thơm Trang 15 Khóa luận tot nghiệp GVHD: TS Lê Văn Đạt Ở nước ta, để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước cho phù hợp với tinh hình đô thị, ngày 5/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là chinh phủ) ban hành Nghị định về việc phân loại đô thị và phân cắp quản lý đô thị. Theo đó, đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản như: 1- Là trung tâm tổng hợp hay là trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của vùng lãnh thổ nhất định; 2- Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thé thấp hơn); 3- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên trong tống số lao động; là nơi sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển; 4- Có cơ sở hạ tang kĩ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị; 5- Mật độ dân cư được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng.
Cũng theo nghị định này, đô thị ở nước ta được chia thành 5 loại: Đô thị loại I: Là đô thị rất lớn. có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước: dân số từ hơn 1 triệu người trở lên: mật độ dân cư bình quân trên 15000 người/ km2, và tỷ lệ phí nông nghiệp là >= 90% tổng số lao động của cả thành phó. Đô thị loại II: Là đô thị lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thé; dân số từ 350000 người đến dưới 1 triệu người, mật độ dân số bình quân trên 12000 người/ km2, và tỷ lệ phi nông nghiệp >= 90% tồng số lao động của thanh phó. Đô thị loại Ill: Là đô thị trung bình lớn, có vai trò thúc day sự phát triển của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực của một vùng lãnh thổ, dân sé từ 100000 người đến dưới 350000 người; mật độ dân số bình quân trên 10000 người/ km2 (vùng núi có thé thấp hơn) và tỷ lệ phi nông nghiệp >= 80% tổng số lao động của đô thị.
SVTH: Nguyễn Thị Thơm Trang 16 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS Lê Văn Đạt Đô thị loại IV : Là đô thị trung bình nhỏ, có vai trò thúc day sự phát triển của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh, dân số từ 30000 người đến 100000 người (vùng núi có thể thắp hơn), mật độ dân cư trung bình trên 8000 người/ km2 (vùng nủi có thể thắp hơn) và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 70% tổng số lao động của đô thị. Đô thị loại V: Là những đô thị nhỏ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện hay một vùng trong huyện; dân số 4000 người (mức quy định tối thiểu cho một điểm dân cư đô thị ) đến 30000 người (vùng núi có thể thấp hơn), mật độ dân số bình quân 6000 người / km2, và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 60% trong tổng sé lao động của toàn đô thị( mức quy định tối thiểu cho một điểm dân cư đô thị). Nghị định này cũng quy định quy mô và ranh giới vùng ngoại ô của từng đô thị phù hợp với chức năng của đô thị đó. Như vậy theo Nghị định này thi TP Nha Trang là đô thị loại 2.[39] Tuy nhiên, trải qua hơn 10 năm từ 1990 đến năm 2000, các đô thị ở Việt Nam phát triển nhanh chóng, quy mỏ các đô thị thay đổi rất nhiều, chính vi vậy việc phân loại đô thị theo nghị định 132 của Hội đồng bộ trưởng không còn phù hợp.
ngày 5/10/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2001/NĐ-CP quy định về việc phân loại đô thị cho phù hợp với tình hình thực tế. Theo đó, các đô thị ở nước ta được chia làm 6 loại: - Đô thị loại đặc biệt là đô thị rắt lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước, dân số trên 1,5 triệu người, mật độ dân số trung bình trên 15000 người/km2, tỉ lệ lao động phí nông/ tổng số lao động trên 90%. - Đô thị loại I: là đô thị lớn, cỏ vai trỏ thúc day sự phát triển của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ, dân số trên 500000 người, mật độ SVTH: Nguyễn Thị Thơm Trang 17 Khóa luận tết nghiệp GVHD: 7S Lê Văn Đạt dân số trung bình trên 12000 người/km2, tỉ lệ lao động phi nông/ tống số lao động trên 85%. - 6 thị loại II: là đô thị trung binh lớn, có vai trò thúc day sự phát triển của một vùng hoặc từng ïĩnh vực của quốc gia, dân số trên 250000 người, mật độ dân số trung bình trên 10000 người/km2, tỉ lệ lao động trên 80%.
- 6 thị loại Ill: là đô thị trung bình, có vai trò thúc day sự phát triển của một tỉnh hay một số lĩnh vực của vùng, dân số trên 100000 người, mật độ dân số trung bình trên 8000 ngườikm2, tỉ lệ lao động phi nông/ tổng số lao động trên 75%. - Đô thị loại IV: là đô thị loại trung bình nhỏ, có vai trò thúc day sự phát triển của một tỉnh hay liên huyện, dân số trên 50000 người, mật độ dân số trung bình khoảng 6000 người/km2, tỉ lệ lao động phi nông/ tổng số lao động trên 70%. - Đô thị loại V: là đô thị loại nhỏ, có vai trò thúc day sự phát triển của một huyện hay liên xã, dân số trên 4000 người, mật độ dân số trung bình khoảng trên 2000 người/km2, tỉ lệ lao động phi nông/ tổng số lao động trên 65%. Tiêu chuẩn và phân loại, phan cấp đô thị ở Việt Nam theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP được tống hợp trong bảng dưới đây: SVTH: Nguyễn Thị Thơm Trang 18 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS Lê Văn Đạt uốc gia | > 1.000 | > 90 bộ, an chinh Quốc gia | > 500.000 SVTH: Nguyễn Thị Thom ey Trang 19 [ TH VIỆN Trưởng Dại-Học Su-Pham TP.
HO-CHI-MINH Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS Lê Văn Đạt Nghị định trên cũng quy định, các đô thị miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo. các tiêu chuẩn quy định cho từng loại đô thị phải đạt tối thiểu 70% so với quy định tiêu chuẩn của các loại đô thị tương ứng; các đô thị du lịch, nghỉ mát, đào tạo, nghiên cửu khoa học., quy mô dan số phải đạt tối thiểu 70%, mật độ dân số phải đạt tối thiểu 50% so với quy định tiêu chuẩn của các loại đô thị tương ứng. Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên, đến năm 2005, số lượng các đô thị theo mỗi loại ở Việt Nam như sau: - _ Đô thị loại đặc biệt 2 (Hà Nội và Thành phế Hồ Chí Minh); - 6 thị loại I; 2 (Hải Phong, Đà Nẵng) Đô thị loại Il: 10 (các thành phế trực thuộc tỉnh); Đô thị loại Ill: 17 (các thành phố trực thuộc tỉnh); - 6 thị loại IV: 58 (các thị xã và thị tran); - _ Đô thị loại V: 600 (các thị tran). Các đô thị trên được phân thành 3 cắp quản lý: Thành phố trực thuộc trung ương, Thành phế và thị xã trực thuộc tỉnh.
Thị trắn thuộc huyện.