mở đầu cho thời kì sử gọi là Lê Trung Hưng. Tháng 12 năm 1540, Nguyễn Kim kéo quân từ Ai Lao về đánh Nghệ An, hào kiệt các nơi theo về giúp rất đông. Cuối năm 1543, Lê Trung Hưng chiếm được Tây Đô (Thanh Hóa). Nước ta từ đó hình thành “Nam- Bắc triều”.
Từ Thanh Hóa, Nghệ An trở vào do Lê Trung Hưng cai 12 quản (Bắc triều). Ha i bê n Lê - Mạ c nộ i ch iế n tà n kh ốc ké o dài gầ n 50 nă m (1543- 1592). Như vậy, nhà Lê Tr un g Hư ng vớ i va i tr ò tô ch ức củ a Tr ịn h Kiểm- con rễ của Nguyễn Ki m và tiế p th eo là Tr ịn h Tù ng (c on Tr ịn h Ki ểm ) đã mở rộng ph ạm vi tra nh ch ấp và đâ y nh à Mạ c ra kh ỏi Th ăn g Lo ng và ch âu thể Bắc Bộ vào thá ng Ch ạp nă m Nh âm Th ìn tức đầ u nă m 159 3. Tr on g thờ i kì đại loạn đó, họ Trịnh ở Thanh Hóa đã di cư về đất Ngô Khê.
Do sẵn có lợi thể về kinh tế, chính trị dong họ này làm ăn phát đạt và có uy tín nhất trong lang. Đến nửa cuối thế ki XVII (khoảng từ năm 1650- 1680) nạn cướp nổi lên ở đây, triều đình Lê - Trịnh ra chỉ dụ đổi tên làng xóa số địa dang Ngô Khê cũ, họ Trịnh mới lấy Cự Đà thuộc xã Tử Đà, tổng Từ Minh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đặt tên cho làng Ngô Khê để tưởng nhớ về vùng đất cố hương” [5]. Về sau này, dù làm ăn ở xa nhưng thương nhân Cự Đà vẫn lấy tên này gắn với thương hiệu của họ. Tình hình kinh tế Trong lịch sử nước ta, lúa nước là cây trồng quan trọng bậc nhất của người Việt ngay từ buổi đầu khai mở vùng châu thô Bắc Bộ.
Qua quá trình canh tác, nhịp điệu sinh trưởng của cây lúa đã hình thành nên nhịp điệu của lối sống cho cư dân vùng đất này. Trong hầu hết các làng xã, sản xuất nông nghiệp là phương thức mưu sinh chủ đạo, nhưng trong thời gian rảnh rỗi người nông dân đã tìm mọi cách tăng thêm thu nhập bằng các nghề khác nhau để cải thiện cuộc sông. Điều đó đã làm hình thành nên nền kinh tế hỗn hợp: nông nghiệp kết hợp với tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp. Có thể nói, đây là một cơ cấu kinh tế điển hình và khá phố biến ở các làng quê Việt Nam vùng châu thé Bắc Bộ trong lịch sử.
Không có làng Việt thuần nông hoàn toàn và cũng không có làng Việt chỉ có kinh tế tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp. Chính cơ cấu kinh tế linh hoạt này đã hình thành nên khả năng thích nghi nhanh, tự điều chỉnh khi có những tác động cả từ nội sinh và ngoại sinh cho cư dân khu vực làng xã ở nước ta. 13 tại một cơ cấu kin h tế đặc trư ng nói trê n. Tu y nhi ên, do nh ữn g kh ác biệ t về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý cũng như truyền thống văn hóa, tập quán của cư dân ở đây mà Cự Đà có những đặc điểm riêng biệt.
Sự khác biệt ấy thể hiện ở sự phát triển mạnh của tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp bên cạnh nghề nông nghiệp truyền thống. Qua khảo sát tôi nhận thấy một số nguyên nhân hình thành nên cơ cấu kinh tế ở làng như sau: Điều kiện tự nhiên của làng với địa hình châu thô thấp ở vùng hữu ngạn sông Hồng nên thường xuyên bị ngập úng. Đây là một vùng chiêm trũng, ruộng ít lại thuộc loại ruộng xấu nên canh tác nông nghiệp rất khó khăn. Phần lớn đất nông nghiệp ở đây chỉ canh tác được một vụ, vì vậy, năng suất cây trồng thấp.
Nếu chỉ đơn thuần làm nghề nông sẽ không đủ cung cấp lương thực, đảm bảo cuộc sống cho người dân. Theo một lẽ tự nhiên, làng đã sớm phát triển nghề phụ, đầu tiên là thương nghiệp, sau này là thủ công nghiệp với nghề làm tương, làm miến. Hoạt động thương nghiệp ở làng Cự Đà đã xuất hiện và phát triển từ khá sớm nên kinh tế của làng so với các làng khác trong vùng có khá giả hơn. Từ đầu thế kỉ XX đường làng đã được lát gạch.
Đặc biệt, từ sau khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1933, người Cự Đà đã dịch chuyển tới Hà Đông, Hà Nội, Vĩnh Phúc, vào Sài Gòn,.buôn bán, làm thầu khoán và từ đó thương hiệu có chữ Cự đã được phát triển mạnh thời bấy giờ. Một số chủ doanh nghiệp lớn đã về làng xây nhà, kè đá, xây bến lên xuống sông Nhuệ, mua cột đèn bằng thép đúc từ Pháp về dựng đọc theo bờ sông, dùng máy nỗ cung cấp điện cho làng trong dịp hội làng từ năm 1929. Nghề làm tương, làm miến ban đầu chỉ là nghề phụ trong lúc nông nhàn để tăng thêm thu nhập qua quá trình phát triển, sản phẩm tương, miến Cự Đà đã có thương hiệu và được thị trường chấp nhận. Một số hộ đã mở rộng quy mô sản xuất, Ứng dụng công nghệ máy móc, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng tốt cho nhu cầu của thị trường, trở thành những cơ sở sản xuất có tên tuổi.
14 Nhờở vị trí cửa ngõ thủ đô lại nằm ve n sô ng N h u ệ - kh u vự c có mậ t độ làng nghề lớn của huyện Thanh Oai - là ng C ự Đ à có đi ều ki ện dé ph át tr iể n bu ôn bá n và cá c ng hề th ủ cô ng. Tr on g qu á tr ìn h ph át tr iể n, m ộ t số ng ườ i dâ n đã thoát li nghề nông dé trở thành nh ữn g ng ườ i bu ôn bá n ch uy ên ng hi ệp. Tu y vậy, nhìn chung trong xã hội tr uy ền th ốn g, ph ần lớ n ng ườ i dâ n ở Cự Đà vẫ n duy trì cả ba nghề đó là là m nô ng , th ủ cô ng ng hi ệp và bu ôn bá n. Như vậy, tro ng cơ cấu kin h tế tru yền thố ng ở Cự Đà, nô x ng ngh iệp tuy được duy trì nh ư là nề n tản g cơ sở, thủ cô ng ngh iệp có nh ữn g bư ớc phá t tri ển nhất định nhưn g th ươ ng ngh iệp tro ng nhi ều thế kỉ liê n tục đã trở thà nh mộ t nghé quan trọng, có vai trò lớ n tr on g ho ạt độ ng sin h kế củ a làn g.
Ng oà i vị trí là một làn g ve n sôn g, có diệ n tíc h đất ca nh tác ít, chấ t lượ ng ruộ ng thấ p thì việ c ở gần các làn g ngh ề cũn g là một yếu tố tạo điề u kiệ n cho việ c buô n bán và thủ công ngh iệp phá t tri ển ở đây. Nh ìn lại lịc h sử phá t tri ển của làn g cho thấy vào thé ki XVI I- XVI II, làn g đã là một làn g buô n kết hợp với làm nôn g nghiệp. Vì vậy cho đến nay tập quán buôn bán đã trở nên phổ biến ở làng. Cuối thé ki XIX đầu thế ki XX là giai đoạn buôn bán phát triển thịnh đạt nhất của người Cự Đà.
Một bộ phận thương nhân đã chuyên ra những đô thị lớn làm ăn và xây dựng được thương hiệu trên thương trường với quy mô rất lớn mang theo tên làng như Cự Doanh, Cự Chân,. Những doanh nhân thành đạt này tuy không còn sinh sống ở làng nhưng những ảnh hưởng của họ đã làm thay đổi diện mạo, lối sống của cư dân trong làng và góp phan hình thành nên tng lớp tư sản Việt Nam vào những năm đầu thế ki XX. Cho tới ngày nay, buôn bán vẫn trở thành một nghề chính của phan lớn phụ nữ trong làng. Hiện nay có khoảng 80% phụ nữ trong làng tham gia hoạt động mưu sinh này nhưng chủ yếu là buôn bán nhỏ.
Chính những điều kiện thuận lợi về điều kiện kinh tế của một làng vừa làm nông nghiệp, vừa làm nghề thủ công nghiép lại vừa buôn bán phát | đạt đã tác động lớn đến việc hình thành lối sống của người dân Cự Đà trong xã hội truyền thống. Chúng ta có thể hình dung trước đây (cuối thế kỉ XIX 15 đầu thế ki XX) làng Cự Đà như một khu ph ố nh ỏ, tấ p na p th uy ền bè bu ôn bá n trên bến sông, nhà được đánh số , có đi ện th ắp sá ng mỗ i kh i có vi ệc là ng. Như vậy, điều kiện tự nh iê n và vị trí cư tr ú là ti ền đề qu an tr ọn g qu yế t định sư lựa chọn phương th ức mư u si nh củ a cư dâ n là ng Cự Đà. Vớ i vi trí ve n sông, trước đây Cự Đà ph át tri ển th ươ ng mại , ng hề th ủ cô ng bê n cạ nh nô ng nghiệp.
Hiệ n nay , khi yếu tố ven sôn g khô ng còn , đất can h tác nôn g ngh iệp bị thu hồi, chuyển đổi mục dich sử dụng, người dân bắt buộc phải chuyển đổi phương thức mưu sinh mới thì tình hình kinh tế của cư dân làng đang có nhiều bến đôi. Không gian cư trú và tô chức hành chính Không gian cư trú của làng Việt nói chung và Cự Đà nói riêng bao hàm nhiều chức năng, vừa là nơi cư trú cũng vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng. Những hình ảnh quen thuộc như “cây đa, bến nước, sân đình” là nơi gắn kết mối quan hệ giữa các thành viên, cũng là nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong làng. Điều làm nên sự khác biệt lớn nhất ở Cự Đà so với các làng khácở vùng châu thô Bắc Bộ là không gian cư trú ở đây khá chật hẹp, vừa để ở vừa để sản xuất, kinh doanh.
Nhà ở, sân vườn của tất cả các hộ sản xuất nghề thủ công hoặc các hộ “ăn theo” như phơi bột, bó miến. đều trở thành nơi đặt thiết bị máy móc, dây chuyền sản xuất, phơi hoặc bán sản phẩm. Khu vực sinh hoạt công cộng như các góc đình, chùa, đường làng. cũng đều được tận dụng làm nghề.