Đặt vấn đề hạn về không gian, thời gian và đối tượng khảo sát. Chương 2: Cơ sở lý luậ Nêu lên khái niệm về kịnh tế trang trại cũng như các đặc trưng của kinh tế trang trại; khái quát sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới cũng như tại Việt Nam và huyện Củ Chỉ; nêu lên các phương pháp được áp dụng khi thực hiện đề tài. Chương 3: Tổng quan Trong chương này dé cập tới tình hình chung về tự nhiên, kinh tế, xã hội tại huyện Củ Chỉ và đưa ra nhận xét về những thuận lợi cũng như những hạn chế còn tồn tại tác động tới việc phát triển kinh tế trang trại tại huyện. | | Ị | | | | | Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Đánh giá tình hình đầu tư chăn nuôi của các hộ thuộ c địa bàn huyện Củ Chi thông qua các chỉ tiêu xác định kết quả và hiệu quả kinh tế.
Từ đó đưa ra được các mô hình cũng như các quy mô tối ưu cho việc phát triển kinh tế trang trại tại huyện. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Đưa ra các kết luận sau khi tổng hợp phân tích và từ đó nêu lên những kiến nghị giúp góp phan thúc đẩy kinh tế trang trại tại huyện Củ Chỉ phát triển hơn. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Quan niệm về kinh tế trang trại Quá trình xác định tiêu chuẩn tra ng trại cũng như nhận thức thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại ở VN nói chung và Na m Bộ nói riêng để đi đến một quan niệm thống nhất về thực chất của kin h tế trang trại là quá trình gây nhiều tranh luận và cho đến nay vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao.
Thực tiễ n khi tiến hành nghiên cứu kinh tế trang trai , do tiêu chuấn xác định trang trại không thống nhất trong cả nước nên đã dẫn đến tình trạ ng ngay trong một tỉnh, trong cùng một thời gian các cơ quan quản lý, các ban ngành và các nhà kho a học đã đưa ra những con số thống kê về trang trại rất khác nhau. Trong thời gian qua, Tổng cục Thống kê dựa trên thông tư 74/2003/TT — BNN ngày 4/7/2003 của Bộ Nô ng Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (sửa đổi, bổ xung Mục III của Thông tư liên tịch số 69/2000/T TLT/BNN — TCTK ngày 23/6/2000) đã đưa ra những tiê u chuẩn xác định trang trại nh ư sau: + Có quy mô diện tích sản xuấ t tương đối lớn so với mức tru ng bình của kinh tế hộ tại địa phương, tương ứng với từng ngành sản xuất cụ thể : trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồ ng thuỷ sản. - Đối với trang trại trồng các cây hàn g năm là chủ yếu thì ở miền Bắc và miền Trung phải có diện tích từ 1 ha canh tác trở lên, còn ở các tỉnh Nam Bộ phải có diện tích từ 3 ha trở lên; - Đối với trang trại trồng các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung phải có diện tích từ 3 ha trở lên, ở các tỉnh Nam Bộ phải có diện tích từ 5 ha trở lên, Í ĐẠIH0C NONG LATP M. Hom| | THU VIÊN | - Đối với trang trại chăn nuôi như trâu, bò phải có từ 50 con trở lên, lợn 100 con trở lên (không là lợn sữa dưới 2 tháng tuổi) , gia cầm có từ 2000 con trở lên (không tính số con đưới 7 ngày tuổi).
- Đối với trang trại lâm nghiệp phải có từ 10 ha đất rừng trở lên. - Đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản phải có từ 2 ha diện tích mặt nước trở lên. + Có sử dụng lao động làm thuê thường xuyê n từ 2 lao động/năm, nếu lao động thời vụ thì quy đổi thành lao động thường xuyên. + Chủ trang trại phải là những người có kiến thức, kinh nghiệm về nông, lâm, ngư nghiệp và trực tiếp điều hành sản xuất tại trang trại.
+ Lấy sản xuất hàng hoá làm hướng chính và có thu nhập vượt trội so với mức trung bình của kinh tế hộ tại địa phương. Các tiêu chuẩn này là cơ sở pháp lý để thống nhất trong việc xác định trang trại, phân loại các trang trại tron g phạm vi cá nước. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện các tiêu chuẩn trên, do đặc điểm đa dạng của các loại trang trại, đo đặc điểm khác nhau rất nhiều ở các vùng, các tỉnh VN nên đã gây ít nhiều khó khăn và chưa thật phù hợp đối với việc xác định trang trại trong thời gian qua. Đặc điểm chú yếu của kinh tế trang trại nước ta Tính chất sản xuất.
Sản xuất hàng hoá là chức năng chính; Giá trị tổng sản phẩm hàng hoá là chỉ tiêu trực tiếp đánh giá quy mô sản xuất của trang trại; Ty suất hàng hoá cao; Các chỉ tiêu về vốn, mức độ thâm canh, sử dụng lao động cao hơn kinh tế hộ. Chủ trang trai. Chủ trang trại là chủ gia đình; Chú trang trại vừa điều hành vừa trực tiếp tham gia sản xuất; Chủ trang trại là người có ý chí làm giàu, có kinh nghiệm và hiểu biết sản xuất kinh doanh nông nghiệp, nhạy bén với thị trường. Lao đông trong trang trai.
Chủ yếu là lao động gia đình; Lao động thuê theo thời vụ nhiều hơn là thuê thường xuyên; Lao động thuê ngoài không nhiều, thường cùng ăn, cùng làm với chủ trang trại tạo ra một tập thể lao động gần gui. Khai thác và sử dụng đất đai. Khai thác đất đai trực tiếp; Khai thác đất đai trực tiếp bằng sức lao động và kinh ngh iệm của gia đình. Quy mô ruông đất và phương thức sản xuất.
Không nhất thiết trang trại phải có quy mô đất đai lớn; Quy mô sản xuất trang trại trong một nước khô ng cố định theo thời gian và thay đổi theo từng vùng sinh thái. Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại Trên thé giới. Lịch sử và điều kiện ra đời của loại hình kinh tế trang trại ở các nước tư bản phát triển Châu Âu và Bắc Mỹ. Khi kinh tế hàng hóa đầu tiên xuất hiện và phát triển ở Châu Âu bằng cuộc cách mạng công nghiệp lần 1 và những cuộc cách mạng diễn ra ở hết nước nay tới nước khác mà điền hình nhất, triệ t để nhất là cuộc đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã kéo theo sự xuất hiệ n của hình thức kinh tế trang trại đầu tiên trên thế giới thay thế cho những hình thức sản xuất tiểu nông của những người nôn g dân tự canh và hình thức điển trang, tháiấp của các thế lực phong kiến quý tộc đương thời.
Ngày buổi ra đời đầu tiên của loại hìn h kinh tế mới mẻ này trong nông nghiệp ở nước Anh đã hình thành 2 hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là những trang trại tư bản tư nhân và nhữ ng trang trại gia đình. - Trang trại tư bản tư nhân là nhữ ng xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn được quản lý tập trung và mọi điều hành hoạt động đều giống như một xí nghiệp công nghiệp. Tất cả các khâu từ quản lý sản xuất đến trực tiếp lao động đều được nhà tư bản thuê mướn lao động lảm thuê. - Trang trại gia đình là những tra ng trại được hình thành và phát triển từ những hộ gia đình biết làm ăn ở quy mô nhỏ, trên cơ sở sở hữu một diệ n tích đất nhỏ hơn và dùng lao động gia đình là chính để sản xuất ra nôn g sản hàng hóa cung cấp cho xã hội.
Loại tra ng trại gia đình tỏ ra thích hợp và hiệu quá hơn những đồn điền tư bản trong nền sản xuất hàng hóa vì chủ động tận dụng đượ c nguồn lao động gia đình, có thu ê mướ n nhân công trong những công việc cần thiết, có khả năng quán lý điều hàn h trực tiếp quá trình sản xuất kin h doanh và —— —— —— nông sản hàng hóa do tra ng trại tạo ra có giá trị thấ p hơn giá trị nông sản hàng hóa cùng loại do đồn điền tư bản và các nông dân tự do khá c tạo ra. Là cái nôi của cách mạng côn g nghiệp và cách mạng tu sản trên thế giời, tiên ở nước Anh cũng như các nước được mở mang sau nà y do dé quốc Anh (như Mỹ, Úc, Canada, .) đều có xu hư ớng tích tụ đất đai vào những trang trại làm ăn có hiệu quả và giảm dần số lượ ng các trang trại. Là nơi diễn ra cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất thế giới vào năm 1789, nước Pháp sau đó cũng đã xuất hiện những chủ trại tro ng nông nghiệp. Đây là những chủ trại thực hiện ph ương thức kinh doanh tiên tiến trong nông nghiệp, đem lại bộ mặt mới cho nông nghiệp và nông thô n nuoc Pháp nên được Nh à nước Pháp đương thời có những chính sách khuyến khích phát triển.
Một số chính sách cụ thé đó là: cho phép chủ trại được tự do lựa chọn ngành kinh doanh, lựa chọn súc vật chăn nuôi và có ưu tiên về cung cấp ph ân bón; khuyến khích các chủ trại xuất khẩu nông sản đã tái chế, hạn chế xuất kh ẩu nguyên liệu thô. Phương châm mà Nhà nước Ph áp đã áp dụng cho các chủ tra ng trại đương thời là tiêu thụ như thế nào thì phả i sản xuất cái để xuất khẩu như thế ấy: ưu đãi thuế cho nông nghiệp, nông thôn, chủ trai,. chứ không ưu đãi cho quý tộc, tăng lữ và nhà buôn; có chính sách đầu tư cho đường sá, cầu cống ở nông thôn, giúp cho việc vận chuyến, lưu thông nô ng sản hàng hóa đễ dàng. Lược sử hình thành kinh tế trang trại tại Việt Nam.
Ở Việt Nam, kinh tế trang trại là sản phẩm của đườn g lối mới của Dang về kinh tế nông nghiệp và được tác động từ các nhân tổ quan trọng sau. + Chỉ thị 100/CT-TW của Ban chấ p hành Trung ương Khoá IV (1981), chú trương khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động: “Tổ chức tốt việc giao diện tích ruộng đất cho đội sản xuất, cho nhóm và người lao động sử dụng để thực hiện sản lượng kho án, tránh để đồng ruộng bị chia cắt manh mún, gay trở ngại cho việc sử dụn g cơ sở vật chất - kỹ thuật và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất”. Điều đó có ý nghĩa rất quyết địn h trong việc xác định quyển tự chủ về sức lao động của nhóm và hộ nông dân - người dân thường gọi tat là Khoán 100.