CHƯƠNG 1 ĐẶT VÁN ĐÈ 1. Sự cần thiết của đề tài Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí trung tâm đối với các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ, là một trong những trung tâm về kinh tế, thương mại, tải chính, công nghiệp, khoa học công nghệ, dịch vụ và giao lưu quốc tế của cả nước; đã và đang là hạt nhân cùng các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa — Vũng Tàu, Bình Dường, Bình Phước, Tây Ninh, Long An xây dựng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; Thúc đẩy nhanh tiến trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước. Vùng nông thôn ngoại thành là vùng ngoại vi của một Thành phố lớn, đã và đang phát triển đô thị hoá nhanh hơn các tỉnh trong khu vực, nhất là từ khi Thành phố triển khai thực hiện ND 93/CP của Chính phủ; thành lập 5 quận mới (1997), tách và thành lập quận Tân Phú, quận Bình Tân (2004). Tiến trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước theo chủ trương của Đảng va Nhà nước, kinh tế-xã hội của Thành phố nói riêng và cả nước nói chung đã và đang phát triển khá nhanh, thu nhập và đời sống người dân trong nước được cải thiện, nâng cao, đòi hỏi nhu cầu thực phẩm càng da dang, chất lượng cao và an toàn hơn.
Các quận huyện có sản xuất nông nghiệp ở ngoại thành đang triển khai thực biện chương trình hành động của Thành ủy (số 05/NQ-TU ngày 4/7/2002) thực hiện Nghị quyết TW 5 khoá IX về day mạnh Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nhằm nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, nâng cao chất lượng và sản lượng các loại nông sản hàng hoá. Đây là quá trình chuyển dịch toàn điện và đồng bộ về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác. Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ VII đã xác định phương hướng và mục tiêu phát trién kinh tế Thành phố.là phải bố trí lại lực lượng sản xuất trên địa bàn, phù hợp với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, các tỉnh Nam Bộ và Tây nguyên.Đây mạnh quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá nông nghiệp đồng thời với tăng cường đầu tư phát triển, xây dựng nông thôn mới, bố trí lại lao động nông nghiệp, chuyến đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện giảm diện tích đất nông nghiệp hàng năm và đặc điểm, thế mạnh của vùng nông thôn, vùng ven đô thị lớn. Sự thành công của các chương trình giống cây, giống con chất lượng cao, phát triển hai cây (rau an toàn, dứa Cayene), hai con (bò sữa, tôm sú) đã thúc đây và tạo tiền đề quan trọng để chuyển dịch co cấu kinh tế nông nghiệp, tăng năng 'suất lao động và hiệu quả sử dụng đất canh tác.
Mặt khác, cùng với quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá, đất canh tác đã và đang ngày càng giảm, lao động nông nghiệp và thanh niên nông thôn ngày càng bị thu hút vào các khu công nghiệp, khu chế xuất và các ngành nghề phi nông nghiệp do có thu nhập cao và ổn định hơn so với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là hiệu quả và thu nhập từ việc trồng lúa. Hơn nữa, tiềm năng đất đai, lao động và lợi thế của Thành phố chưa được phát huy, khai thác đúng mức để nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân. Từ thực trạng trên, cần phải nhanh chóng thực hiện chuyên dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nhằm nâng cao thu nhập của nông dân ngoại thành, giảm khoảng cách chênh lệch giữa thành thị.và nông thôn. Mục đích — Tìm ra những nhân tố thuận lợi và khó khăn của tiến trình phát triển nông nghiệp địa phương trên địa bàn vùng nông thôn ngoại thành Thành phô.
— _ Chỉ ra những mặt tồn tại cần giải quyết trong tiến trình chuyên dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh. — Đề xuất các giải pháp mang tính định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cầu kinh tế nông nghiệp của Thành phố trong tương lai. Nội dung nghiên cứu — Thực trạng sản xuất của Thành phố giai đoạn 2001-2005. — Đánh giá tiến trình chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2001-2005.
— Động thái chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2010. — Định hướng và giải pháp chuyển địch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006-2010. Phạm vi nghiên cứu 1.
Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian: Giới han thời gian nghiên cứu về đề tài này trong những năm từ 01/01/2001 đến 31/12/05. Thời gian thực hiện từ 30/03/06 đến 30/07/06. Bố cục đề tài Kết cấu đề tai gồm 5 chương: Chương l- Dat vấn đề: Nêu lý do chọn đề tài, mục đích của việc nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của đề tài.
Chương 2- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Nêu lên một số cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu sản xuất, chuyển dich cơ cấu kinh tế, chuyên dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá và phương pháp nghiên cửu. Chương 3- Tổng quan: Giới thiệu sơ lược về tình hình kinh tế xã hội Thành phố Hồ Chí Minh | Chương 4- Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Chương này đi sâu phân tích kết quả chuyển dịch cơ cầu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 2001-2005. Trên cơ sở đó, đưa ra một số nhận xét và đề xuất những giải pháp dé hạn chế tồn tại nhằm đạt kết quả cao trong giai đoạn tới. Chương 5- Kết luận và kiến nghị: Nêu nhận xét khái quát thành quả và tồn tại trong thời gian qua, từ đó, nêu lên một số kiến nghị từ góc độ nghiên cứu.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2,1.12, Chuyền đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp Khái niệm. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản trong cơ cấu nông nghiệp dựa trên cơ cầu chung của nền kinh tế và xu hướng chuyển đổi sản xuất nông nghiệp nhỏ lé sang sản xuất hàng hoá, đa dạng hoá sản phẩm, phát triển nông nghiệp toàn diện, bảo vệ môi trường sinh thái. Sư cần thiết của chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Chuyên đôi cơ cấu sản xuất theo hướng bỏ dan tình trạng thuần nông, phát triển công nghiệp và dịch vụ là xuất phát từ yêu cầu của Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá nông nghiệp.
Phát huy đầy đủ lợi thế so sánh về tiềm năng đất đai, khí hậu và kinh nghiệm truyền thống cùng với quá trình thúc đây việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới dé tạo ra khối lượng hàng hoá lớn, đa dang, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khâu. Điều đó đòi hỏi phải hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá lớn, tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa dịch vụ đầu vào quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. & Chuyén déi co cấu sản xuất làm cho kết cấu ha tang kinh tế xã hội như thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin liên lạc, các cơ sở nông nghiệp, dịch vụ, y tế, văn hoá, giáo dục ngày càng phát triển, là điều kiện vật chất hết sức quan trọng cho chuyển đổi cơ cấu sản xuất góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Đồng thời cho phép tạo ra những công cụ và máy móc thiết bị thích hợp với quy trình sản xuất của các ngành ở nông thôn, vừa tăng năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động, giải phóng sức lao động, thực hiện sự phân công lao động xã hội ở khu vực nông thôn.
Chuyển đổi cơ cấu sản xuất cho phép áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật về cây trồng, vật nuôi, thích hợp với từng vùng kinh tế sinh thái, cho phép tăng năng suất và sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm. Áp dụng công nghệ sinh học về phân bón, bảo vệ thực vật, thú y, thức ăn gia súc cho phép tăng năng suất, tiết kiệm chi phí và thay dần các loại thuốc hoá học độc hại đối với người và gia súc, bảo vệ môi trường sinh thái. Khái niệm chuyền dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự tác động làm thay đổi dan ty trọng của từng ngành kinh tế, từng thành phan kinh tế, tỷ trọng lao động của từng ngành trong tông thể nền kinh tế. Nói cách khác: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm tối ưu hoá nền kinh tế của một quốc gia.
Để tối ưu hoá cơ cấu kinh tế phái hình thành, phải thoả mãn các yêu cầu sau: Phan anh được va đúng các quy luật của quốc gia về nhân tài - vật lực: Phù hợp với xu thế của cách mạng khoa học công nghệ, của xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn. Khi thực hiện chiến lược chuyền dịch cơ cấu kinh tế, cần lưu ý một số điểm sau: - Sự chuyển dich co cau ngành kinh tế phải dựa trên các nguôn lực hiện có và phải diễn ra cùng với sự thay đổi các nguồn lực phân bé vào các ngành trong nền kinh tế. - Chuyển dich cơ cấu phải mang theo hướng phân bỗ các nguồn lực vào các ngành. các lĩnh vực có năng suất và hiệu quả cao.
— Vậy thực chất chuyên dịch cơ cấu là quá trình chuyển dịch nhằm mục đích thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển thông qua việc phân bé lại các nguồn lực sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Khai niêm. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp được hiểu là mối quan hệ tỷ lệ giữa số lượng và chất lượng các ngành nghề, các bộ phận cấu thành của nền nông nghiệp. Chuyển dịch cơ cau kinh tế nông nghiệp về thực chất là thay đổi mối quan hệ đó tạo ra một sự phát triển mới của vùng.
Trên thực tế nông nghiệp gắn liền với nông thôn vì nông nghiệp là một trong những bộ phận chủ yếu của sản xuất vật chất, cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp.Do đó, chuyến dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng chính là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. — Chuyển dich cơ cầu kinh tế theo ngành: Trong mỗi quốc gia, tỉnh, huyện (xin gọi chung là vùng lãnh thổ) bao giờ cũng phát triển nhiều ngành kinh tế. Mỗi vùng lãnh thổ, nông nghiệp bao giờ cũng có nhiều ngành quan hệ mật thiết với nhau.