Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vị trí trung tâm kinh tế, thương mại, tài chính, công nghiệp, khoa học công nghệ và dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như cả nước. Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tốc độ đô thị hóa tại khu vực nông thôn ngoại thành diễn ra nhanh chóng, đặc biệt sau khi thực hiện Nghị định 93/CP của Chính phủ về thành lập 5 quận mới vào năm 1997 (Quận 2, 7, 9, 12, Thủ Đức) và tiếp tục tách, thành lập Quận Tân Phú, Bình Tân vào các năm 2003–2004. Sự phát triển kinh tế làm gia tăng mức sống của cư dân đô thị, kéo theo nhu cầu tiêu dùng thực phẩm chất lượng cao, an toàn và đa dạng.
Trước thực tế đó, các quận, huyện ngoại thành đã triển khai Chương trình hành động số 05/NQ-TU ngày 04/07/2002 của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ VII cũng xác định mục tiêu bố trí lại lực lượng sản xuất, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong bối cảnh quỹ đất canh tác nông nghiệp liên tục bị thu hẹp do quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang công nghiệp và hạ tầng đô thị. Lao động trẻ tại nông thôn có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu vực phi nông nghiệp do thu nhập từ sản xuất thuần nông, đặc biệt là độc canh cây lúa, đạt mức rất thấp. Nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa diện tích đất canh tác suy giảm và yêu cầu nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn, việc nghiên cứu thực trạng và đánh giá tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành giai đoạn 2001–2005 là nhiệm vụ có tính cấp thiết cao.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn được tác giả xác định gồm ba nội dung chính:
- Tìm ra những nhân tố thuận lợi và khó khăn của tiến trình phát triển nông nghiệp địa phương trên địa bàn vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chỉ ra những mặt tồn tại cần giải quyết trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các giải pháp mang tính định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Thành phố trong giai đoạn 2006–2010.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp của Thành phố giai đoạn 2001–2005.
- Đánh giá tiến trình và hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2001–2005.
- Đánh giá động thái chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành giai đoạn 2005–2010.
- Đề xuất định hướng quy hoạch và nhóm giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006–2010.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, các mô hình chuyển đổi sản xuất cây trồng, vật nuôi và hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường tại khu vực nông thôn ngoại thành.
- Phạm vi không gian: Địa bàn vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, trọng tâm là 5 huyện ngoại thành (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) cùng một số quận ven còn sản xuất nông nghiệp.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và phân tích chuỗi số liệu thứ cấp từ ngày 01/01/2001 đến ngày 31/12/2005; thời gian thực hiện luận văn từ ngày 30/03/2006 đến ngày 30/07/2006.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt lý luận, luận văn tiếp cận khái niệm chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp là quá trình thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thủy sản theo hướng chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ, tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa tập trung, đa dạng hóa sản phẩm, phát triển nông nghiệp toàn diện và bảo vệ môi trường sinh thái. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được phân tích trên ba bình diện: cơ cấu ngành kinh tế (thay đổi tỷ trọng giữa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp), cơ cấu theo vùng lãnh thổ (hình thành các tiểu vùng chuyên canh theo lợi thế sinh thái) và cơ cấu thành phần kinh tế (quốc doanh, tư nhân, kinh tế hộ, kinh tế hợp tác).
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá được tác giả vận dụng gồm hai nhóm:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh: Giá trị sản xuất (GTSX) theo giá thực tế và giá cố định 1994, giá trị tăng thêm (GDP) ngành nông lâm thủy sản, tỷ trọng đóng góp của từng phân ngành trong cơ cấu kinh tế.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính: Doanh thu, Tổng chi phí (gồm chi phí vật chất, chi phí lao động và chi phí dịch vụ thuê ngoài), Lợi nhuận ròng, Thu nhập của nông hộ, Tỷ suất Lợi nhuận/Tổng chi phí (LN/TCP), Tỷ suất Thu nhập/Tổng chi phí (TN/TCP), Năng suất đất đai (GTSX/ha) và Năng suất lao động nông nghiệp (GTSX/lao động). Bên cạnh đó, các chỉ tiêu gián tiếp và chỉ tiêu xã hội – môi trường được theo dõi gồm: biến động diện tích đất nông nghiệp, tỷ lệ lao động nông nghiệp, tỷ lệ giảm nghèo, tỷ lệ mẫu rau vượt ngưỡng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn (thu thập dữ liệu thứ cấp): Thu thập và tổng hợp chuỗi số liệu từ Niên giám Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (các năm 2001–2005); Báo cáo kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn 5 năm (2001–2005 và 2006–2010) của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội Thành phố Hồ Chí Minh 2006–2010 của UBND Thành phố; Báo cáo quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp Thành phố giai đoạn 2006–2010 của Sở NN&PTNT; các báo cáo khuyến nông của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật và Khuyến nông TP.HCM.
- Phương pháp nghiên cứu hiện trường (thu thập dữ liệu sơ cấp/chuyên gia): Tiến hành phỏng vấn sâu chuyên gia và cán bộ quản lý đang công tác tại Phòng Kế hoạch (Sở NN&PTNT TP.HCM), Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ Nông nghiệp, và Hội Nông dân Thành phố.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian (so sánh tuyệt đối, tương đối, tốc độ tăng trưởng liên hoàn và định gốc) và xử lý tính toán số liệu trên phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Đặt vấn đề
Chương này xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tốc độ đô thị hóa nhanh tại vùng ven TP.HCM làm giảm diện tích đất canh tác, cùng các chủ trương lớn của Thành ủy và UBND Thành phố (tiêu biểu là chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp "hai cây, hai con": rau an toàn, dứa Cayene, bò sữa, tôm sú). Tác giả trình bày rõ ràng 3 mục tiêu nghiên cứu, 4 nội dung thực hiện, giới hạn phạm vi không gian (ngoại thành TP.HCM) và thời gian (giai đoạn 2001–2005), đồng thời khái quát bố cục toàn khóa luận gồm 5 chương.
Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả hệ thống hóa các cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong cơ chế thị trường; phân định chuyển dịch theo ngành, theo vùng lãnh thổ và theo thành phần kinh tế. Chương này trình bày chi tiết phương pháp xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật (công thức tính Doanh thu, Tổng chi phí, Lợi nhuận, Thu nhập, Tỷ suất LN/TCP, Tỷ suất TN/TCP), quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý nhà nước và phương pháp phỏng vấn chuyên gia.
Chương 3: Tổng quan về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội TP. Hồ Chí Minh
Chương 3 mô tả toàn diện các đặc trưng tự nhiên và nền tảng kinh tế – xã hội của địa bàn nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên: TP.HCM nằm ở tọa độ 10°22'13" đến 11°22'17" vĩ độ Bắc và 106°01'25" đến 107°01'10" kinh Đông; khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nhiệt độ trung bình 27°C, lượng bức xạ dồi dào (140 Kcal/cm²/năm), lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11. Địa hình phân chia thành 4 dạng: gò cao lượn sóng (4–32 m, chiếm 30% diện tích tự nhiên, tập trung ở Củ Chi, Hóc Môn), bằng thấp (2–4 m, chiếm 15%), trũng thấp đầm lầy Tây Nam (1–2 m, chiếm 34%, tại Bình Chánh, Củ Chi, Nhà Bè) và trũng thấp ven biển (0–1 m, chiếm 21% tại Cần Giờ).
- Tài nguyên thiên nhiên: Nhóm đất nông nghiệp gồm đất phèn (57.613 ha, chiếm 27,5% diện tích tự nhiên), đất phù sa (26,6%), đất mặn (25,2% tại Cần Giờ), đất xám (40.434 ha, chiếm 19,3%), đất cát (6,2%) và đất đỏ vàng (3,5%). Tài nguyên nước dựa vào hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn (cung cấp 15 tỷ m³ nước ngọt/năm) và tầng nước ngầm Pleitoxen. Toàn thành phố có 33.684 ha rừng, trong đó rừng ngập mặn Cần Giờ chiếm 94% diện tích rừng toàn thành và là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Bờ biển Cần Giờ dài khoảng 15 km thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản.
- Kinh tế – xã hội: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001–2005 đạt 11%/năm, quy mô GDP năm 2005 đạt 160 nghìn tỷ đồng (tương đương 9,8 tỷ USD). Tỷ lệ thất nghiệp toàn thành còn 6,05%; 100% hộ dân dùng điện lưới, 90% dùng nước sạch; hoàn thành phổ cập THCS năm 2002; cơ bản xóa hộ nghèo theo chuẩn cũ vào cuối năm 2003.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết dữ liệu thực nghiệm qua các khía cạnh:
1. Định hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tổng thể
Cơ cấu GDP toàn thành phố chuyển dịch theo hướng Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp. Đến năm 2005, nông lâm thủy sản chỉ còn chiếm 1,60% GDP thành phố. Tại 5 huyện ngoại thành, cơ cấu kinh tế có sự phân hóa rõ rệt:
| Huyện ngoại thành |
Nông nghiệp (%) |
Công nghiệp (%) |
Thương mại – Dịch vụ (%) |
| Củ Chi |
18,30 |
69,60 |
12,10 |
| Hóc Môn |
14,90 |
56,40 |
28,70 |
| Bình Chánh |
26,50 |
59,20 |
14,30 |
| Cần Giờ |
71,40 |
7,10 |
21,50 |
| Nhà Bè |
26,80 |
5,10 |
68,10 |
| Bình quân thực hiện 5 huyện |
28,82 |
47,99 |
23,19 |
2. Chuyển dịch giá trị sản xuất (GTSX) nông lâm thủy sản
Trong giai đoạn 2001–2005, tổng GTSX nông lâm thủy sản toàn thành phố có sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nội bộ mạnh mẽ:
| Chỉ tiêu GTSX (Giá cố định 1994) |
Năm 2001 (Tỷ đồng) |
Năm 2005 (Tỷ đồng) |
So sánh 2005/2001 (%) |
Cơ cấu 2001 (%) |
Cơ cấu 2005 (%) |
| Nông nghiệp |
1.531,11 |
1.674,30 |
+9,35 |
72,59 |
63,27 |
| - Trồng trọt |
817,98 |
740,50 |
-9,47 |
38,78 |
27,98 |
| - Chăn nuôi |
534,83 |
729,56 |
+36,41 |
25,36 |
27,57 |
| - Dịch vụ nông nghiệp |
178,30 |
204,24 |
+14,55 |
8,45 |
7,72 |
| Lâm nghiệp |
40,54 |
38,00 |
-6,27 |
1,92 |
1,44 |
| Thủy sản |
537,73 |
934,00 |
+73,69 |
25,49 |
35,29 |
| Tổng giá trị sản xuất |
2.109,38 |
2.646,30 |
+25,45 |
100,00 |
100,00 |
Tính theo giá thực tế, GTSX toàn ngành năm 2005 đạt 3.701,66 tỷ đồng, tăng 30,67% so với năm 2001. Thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất (+118,45%), nâng tỷ trọng từ 18,91% lên 31,15% trong tổng GTSX.
3. Biến động quỹ đất nông nghiệp
Giai đoạn 2000–2005, đất nông nghiệp giảm 7.203 ha (-5,51%), từ 130.720 ha xuống 123.517 ha. Cơ cấu sử dụng đất diễn biến theo xu hướng:
- Đất trồng cây hàng năm giảm 21.791 ha (-31,59%), trong đó đất lúa và màu giảm 18.335 ha (-33,29%, từ 55.073 ha xuống 36.738 ha).
- Đồng cỏ chăn nuôi tăng 1.257 ha (+453,79%, từ 277 ha lên 1.534 ha).
- Đất vườn tạp và cây lâu năm tăng 8.785 ha (+38,85%, từ 22.606 ha lên 31.391 ha).
- Đất nuôi trồng thủy sản tăng 5.616 ha (+135,36%, từ 4.149 ha lên 9.765 ha).
4. Thực trạng từng phân ngành sản xuất
- Cây lúa: Diện tích gieo trồng giảm từ 68.321 ha (2001) xuống 40.521 ha (2005), giảm 40,69%. Năng suất lúa bình quân năm 2005 đạt 3,48 tấn/ha/vụ (thấp hơn mức bình quân cả nước 4,8 tấn/ha). Sản lượng lúa giảm từ 210.027 tấn xuống 140.528 tấn (-33,09%).
- Rau các loại: Diện tích chung giảm từ 9.797 ha xuống 9.019 ha, song diện tích rau an toàn tăng đột biến từ 18 ha lên 1.100 ha (+6.019,4%), tập trung tại Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn.
- Cây công nghiệp và cây ăn trái: Diện tích mía giảm 28,34% (còn 2.561 ha); cao su giữ mức 2.850 ha; cây ăn trái tăng lên 8.906 ha; dứa Cayene tăng từ 6 ha lên 1.000 ha (đạt 50% kế hoạch đề ra).
- Chăn nuôi & Thủy sản: Đàn bò sữa tăng trưởng mạnh, diện tích đồng cỏ đạt 1.889 ha (năm 2005). Thủy sản nước lợ/mặn (chủ yếu là tôm sú) phát triển vượt bậc tại Cần Giờ và Nhà Bè.
5. Hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất chuyển đổi
Khóa luận so sánh hiệu quả tài chính giữa mô hình canh tác truyền thống và các mô hình mới trên 1 ha/vụ:
| Chỉ tiêu kinh tế |
Mô hình chuyên lúa |
Nuôi tôm sú bán công nghiệp |
Nuôi tôm sú công nghiệp |
Mô hình rau an toàn |
| Doanh thu (đồng) |
Thấp |
Cao hơn lúa 1.924,91% |
234.000.000 |
Cao |
| Tổng chi phí (đồng) |
Thấp |
Trung bình |
135.000.000 |
Trung bình |
| Thu nhập thuần (đồng) |
~2.500.000 |
50.000.000 |
100.000.000 |
>30.000.000 |
| Tỷ suất Lợi nhuận/Chi phí |
0,18 |
0,49 |
0,72 |
Cao |
| Tỷ suất Thu nhập/Chi phí |
0,35 |
0,54 |
0,74 |
Cao |
So sánh cấp độ toàn ngành (Bảng 40 trong văn bản): GTSX trên 1 lao động nông nghiệp của TP.HCM đạt 16,95 triệu đồng (vượt cả nước 167,54%); GTSX trên 1 ha đất nông nghiệp đạt 16,00 triệu đồng (vượt cả nước 60,43%).
6. Tác động kinh tế – xã hội – môi trường và các tồn tại
- Tác động tích cực: Bước đầu hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa công nghệ cao (bò sữa, tôm sú, rau an toàn); giảm tỷ lệ ô nhiễm tồn dư thuốc bảo vệ thực vật từ 9,71% xuống 1,67%; giải quyết việc làm tại chỗ (bình quân 6 nhân khẩu/hộ với 2–3 lao động chính).
- Hạn chế, tồn tại: Tốc độ chuyển dịch còn chậm, đất trồng lúa thu nhập thấp vẫn chiếm hơn 50% diện tích gieo trồng cây hàng năm; liên kết 4 nhà (Nhà nước – Doanh nghiệp – Nhà khoa học – Nông dân) còn lỏng lẻo; nông dân khó tiếp cận vốn tín dụng do thiếu tài sản thế chấp; hạ tầng thủy lợi Cần Giờ, Nhà Bè chưa đồng bộ gây ô nhiễm nguồn nước thải nuôi tôm; hoạt động của 471 tổ hợp tác và 29 HTX nông nghiệp còn yếu; công tác khuyến nông mang tính thụ động một chiều.
7. Định hướng và giải pháp giai đoạn 2006–2010
- Quy hoạch đất đai đến năm 2010: Quỹ đất nông nghiệp dự kiến giảm còn 96.902 ha (-21,82%). Diện tích chuyên lúa giảm xuống 8.906 ha (-62,46%); tăng diện tích rau lên 5.487 ha, đồng cỏ lên 3.461 ha, cây ăn trái lên 10.300 ha. Đàn bò sữa nâng lên 70.000 con, heo 200.000 con, chấm dứt nuôi gia cầm trên địa bàn thành phố.
- Mục tiêu: Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản tăng bình quân trên 6%/năm; GTSX trồng trọt đạt trên 66 triệu đồng/ha/năm, thủy sản đạt trên 100 triệu đồng/ha/năm, bình quân chung đạt 71,5 triệu đồng/ha/năm. Cơ cấu GTSX năm 2010: Trồng trọt 23,5%, Chăn nuôi 36,0%, Thủy sản 29,5%, Dịch vụ nông nghiệp 10,0%, Lâm nghiệp 1,0%.
- Sáu nhóm giải pháp đề xuất: (1) Đầu tư đồng bộ hạ tầng thủy lợi và giống; (2) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao và giảm chi phí; (3) Tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu nông sản và tiêu thụ theo hợp đồng; (4) Đổi mới mô hình khuyến nông theo cơ chế liên kết 3 bên (Nông dân – Khuyến nông – Doanh nghiệp); (5) Mở rộng các kênh tín dụng và thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay; (6) Quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương tổng kết khẳng định sự đúng hướng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành giai đoạn 2001–2005, chỉ ra các nút thắt cần tháo gỡ và đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với UBND TP.HCM (hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật, cơ chế vốn kích cầu) và Sở NN&PTNT TP.HCM (quản lý chất lượng giống, kiểm định thị trường vật tư phân bón, thức ăn chăn nuôi, mở rộng mạng lưới khuyến nông – khuyến ngư cơ sở).
Kết quả và đóng góp
Về mặt kết quả định lượng thực nghiệm, luận văn đã tổng hợp và chứng minh:
- Tốc độ tăng trưởng GTSX nông lâm thủy sản đạt 25,45% theo giá cố định 1994 (từ 2.109,38 tỷ lên 2.646,30 tỷ đồng) và 30,67% theo giá thực tế (từ 3.208,68 tỷ lên 3.701,66 tỷ đồng).
- Cơ cấu ngành có sự chuyển dịch rõ rệt: Tỷ trọng thủy sản tăng mạnh từ 25,49% lên 35,29% (theo giá 1994) và chăn nuôi tăng từ 25,36% lên 27,57%; trong khi tỷ trọng trồng trọt giảm từ 38,78% xuống 27,98%.
- Năng suất kinh tế trên đất và lao động của nông nghiệp TP.HCM vượt trội so với bình quân cả nước: GTSX/lao động đạt 16,95 triệu đồng (cao hơn 167,54%) và GTSX/ha đạt 16,00 triệu đồng (cao hơn 60,43%).
- Phân tích hiệu quả tài chính khẳng định các mô hình chuyển đổi mang lại thu nhập cao vượt trội so với độc canh cây lúa (thu nhập lúa chỉ đạt 2,5 triệu đồng/ha; trong khi rau an toàn đạt trên 30 triệu đồng/ha, tôm sú bán công nghiệp đạt 50 triệu đồng/ha và tôm sú công nghiệp đạt 100 triệu đồng/ha với tỷ suất LN/TCP đạt 0,72 lần).
Về giải pháp và đóng góp khoa học:
- Tác giả đề xuất mô hình chuyển giao khuyến nông đổi mới dựa trên sự phối hợp 3 bên: Nông dân (sản xuất theo chuẩn kỹ thuật) – Khuyến nông (huấn luyện, giám sát, kết nối đơn hàng) – Doanh nghiệp (đặt hàng, bao tiêu theo hợp đồng kinh tế), khắc phục hoàn toàn nhược điểm của mô hình khuyến nông truyền thống hành chính một chiều.
- Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ kế hoạch quy hoạch chuyển đổi 14.820 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng rau, hoa kiểng, cỏ chăn nuôi và thủy sản trong giai đoạn 2006–2010.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận các hạn chế và hướng mở xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực tế:
- Hạn chế: Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu chủ yếu là số liệu thứ cấp tổng hợp từ các cơ quan quản lý nhà nước kết hợp phỏng vấn cán bộ chuyên gia, chưa thực hiện điều tra chọn mẫu trực tiếp trên quy mô lớn đối với từng nhóm hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi và hộ nghèo để phân tích sâu tương quan vi mô. Việc đánh giá chi phí đầu vào ở một số chủng loại cây ăn trái lâu năm chưa tách bạch chi tiết từng năm kiến thiết cơ bản.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực nghiệm hiệu quả vận hành của mô hình chuỗi liên kết 3 bên (Khuyến nông – Nông dân – Doanh nghiệp) trong giai đoạn 2006–2010; nghiên cứu sâu về giải pháp giải quyết việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp bền vững cho bộ phận lao động nông thôn mất đất do đô thị hóa.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn, Khuyến nông và Quản lý Kinh tế: Cung cấp phương pháp luận và khung chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị.
- Cán bộ quản lý và chuyên viên tại Sở NN&PTNT, Trung tâm Khuyến nông, Phòng Kinh tế các huyện ngoại thành: Tham khảo hệ thống dữ liệu chi tiết về hiện trạng cây trồng – vật nuôi, bài học kinh nghiệm về chuyển đổi đất lúa và cơ chế liên kết tiêu thụ nông sản hàng hóa giai đoạn 2001–2005.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu giá trị sản xuất (GTSX) nông lâm thủy sản TP.HCM giai đoạn 2001–2005 chuyển dịch như thế nào theo giá cố định 1994?
Theo giá cố định 1994, tổng GTSX nông lâm thủy sản tăng từ 2.109,38 tỷ đồng (2001) lên 2.646,30 tỷ đồng (2005). Tỷ trọng phân ngành nông nghiệp giảm từ 72,59% xuống 63,27% (trong đó trồng trọt giảm từ 38,78% xuống 27,98%, chăn nuôi tăng từ 25,36% lên 27,57%); lâm nghiệp giảm từ 1,92% xuống 1,44%; ngành thủy sản tăng mạnh từ 25,49% lên 35,29%.
2. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sú và trồng rau an toàn chênh lệch ra sao so với trồng lúa?
Mô hình chuyên lúa chỉ đạt mức thu nhập khoảng 2,5 triệu đồng/ha và tỷ suất LN/TCP đạt 0,18. Trong khi đó, mô hình trồng rau an toàn đạt thu nhập trên 30 triệu đồng/ha; mô hình nuôi tôm sú bán công nghiệp đạt thu nhập 50 triệu đồng/ha (tỷ suất LN/TCP đạt 0,49); mô hình nuôi tôm sú công nghiệp đạt doanh thu 234 triệu đồng/ha, thu nhập 100 triệu đồng/ha với tỷ suất LN/TCP đạt 0,72 lần.
3. Tình hình suy giảm diện tích đất trồng lúa tại ngoại thành TP.HCM diễn ra như thế nào?
Trong giai đoạn 2000–2005, diện tích đất trồng lúa và màu giảm 18.335 ha (-33,29%), từ 55.073 ha xuống 36.738 ha do chuyển sang cây lâu năm (5.275 ha), chuyển sang nuôi thủy sản (4.054 ha), chuyển sang đất phi nông nghiệp (8.012 ha) và đất sản xuất kinh doanh (2.150 ha). Diện tích gieo trồng lúa giảm từ 68.321 ha xuống 40.521 ha. Đến giai đoạn 2006–2010, quy hoạch dự kiến tiếp tục chuyển đổi 14.820 ha đất lúa sang rau, cỏ chăn nuôi, hoa kiểng và công trình đô thị, giảm diện tích đất chuyên lúa xuống còn 8.906 ha.
4. Luận văn chỉ ra những hạn chế lớn nhất nào trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp giai đoạn 2001–2005?
Các tồn tại chính gồm: (1) Tốc độ chuyển dịch còn chậm, đất trồng lúa thu nhập thấp vẫn chiếm trên 50% diện tích gieo trồng cây hàng năm; (2) Mối quan hệ liên kết 4 nhà còn lỏng lẻo, tiêu thụ qua hợp đồng chưa phổ biến; (3) Nông dân khó tiếp cận vốn vay ngân hàng do thiếu tài sản thế chấp; (4) Hạ tầng đê điều, cấp thoát nước vùng tôm Cần Giờ – Nhà Bè chưa đồng bộ gây ô nhiễm nguồn nước; (5) Mô hình khuyến nông truyền thống mang tính thụ động, chưa gắn kết với tín hiệu thị trường.
5. Mục tiêu giá trị sản xuất bình quân trên một hecta đất nông nghiệp của TP.HCM đến năm 2010 được xác định là bao nhiêu?
Theo định hướng kế hoạch 2006–2010, giá trị sản xuất trồng trọt phấn đấu đạt bình quân trên 66 triệu đồng/ha/năm đối với cây hàng năm, trên 100 triệu đồng/ha/năm đối với nuôi trồng thủy sản, và mức bình quân chung toàn ngành đạt 71,5 triệu đồng/ha/năm.
Kết luận
Luận văn của tác giả Lê Thị Mai Trâm đã phản ánh toàn diện bức tranh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001–2005 dưới tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa. Công trình chứng minh tính hiệu quả của các mô hình nông nghiệp đô thị kỹ thuật cao như bò sữa, tôm sú thâm canh và rau an toàn so với sản xuất lúa truyền thống thông qua hệ thống số liệu định lượng cụ thể. Đồng thời, các định hướng quy hoạch và đề xuất giải pháp đổi mới khuyến nông tam giác liên kết trong luận văn cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho công tác quản lý và phát triển nông nghiệp ngoại thành giai đoạn 2006–2010.