Chương 1: Trình bày tính cần thiết của việc thực hiện dé tài và định hướng mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Trình bày những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu và giới thiệu các phương pháp nghiên cứu mà luận văn đang sử dụng dé đạt được các mục tiêu nghiên cứu. Chương 3: Mô tả tổng quan về vấn đề nghiên cứuvà địa bàn nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Phần này nêu lên các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu dựa trên các phương pháp được sử dụng 6- trên. Chương 5: Dựa trên các kết quả đạt được ở trên rút ra các kết luận về quá trình nghiên cứu đồng thời đưa ra các kiến nghị cho chính quyền địa phương để hoàn chính kết qua thực hiện và nâng cao tính khả thi của chương trình.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Tài nguyên đất đai, quy hoạch sử dụng đất đai Dat dai. Dat đai là một diện tích khoanh vẽ của bề mặt trái đất chứa dựng tat cả các đặc trưng của sinh khí quyền ngay bên trên và bên dưới của lớp đất mặt này bao gồm khí hậu gần mặt đất và dang địa hình nước mặt ( bao gồm những hồ cạn, sông, đầm lầy.) lớp trằm tích gần mặt và kết hợp với dự trữ nước ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, mẫu định cư của con người và những kết quá tự nhiên của những hoạt động con người trong thời gian qua và hiện tại ( cấu trúc hệ thống trữ nước, thoát nước, đường xá, nhà cửa.) Tầm quan trọng của tài nguyên đất đai Đất đai là một nguồn tài nguyên, tài sản quý giá của mỗi quốc gia. Nó là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thé thay thế được đối với các ngành sản xuất là thành phần phần quan trọng hàng đầu của sự sống.
Đồng thời đất đai là nguồn tư liệu sản xuất đầu tiên và quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp. Đất đai là nguồn tài nguyên tự nhiên, tài nguyên môi trường và là nguồn tai nguyên xã hội hay con người. Đất đai là nên tảng cho hệ thống trợ giúp sự sống thông qua việc sản xuất sinh khối để cung cấp lương thực, thực phẩm (chức năng sản xuất). Đất đai là nền tảng của đa dạng hóa sinh vật ( chức năng về môi trường).
Dat đai là nguồn hấp thu hay chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời ( chức năng điều hòa khí hậu). Đất đai điều hòa dự tồn trữ và lưu chuyển tài nguyên nước Đất đai là nơi chứa các vật liệu và vật khoáng thô cho việc sử dụng của con người ( chức năng tồn trữ) Đắt đai có khả năng chấp nhận lọc đệm và chuyển đổi những thành phần nguy hại ( chức năng kiểm soát chất thải và ô nhiễm) Đất đai còn là nơi chứa đựng bảo vệ các chứng tích lịch sử văn hóa của con người ( chức năng bảo tồn di tích lịch sử). Đất đai cung cấp không gian cho sự vận chuyên của con người ( chức năng nối liền không gian) Tuy nhiên với những chức năng quan trọng như vậy nhưng nguồn tài nguyên đất đai hiện nay đang dan cạn kiệt đặc biệt là bởi sự suy thoái đất đai và trầm trọng hơn là những nơi sử dụng đất không quy hoach, không có những tổ chức hay những lý do khác về pháp chế hay tài chính dẫn đến đời sống con người ngày cảng xấu đi. Quy hoạch sử dung đất đai Quy hoạch sự đụng đất đai là sự đánh giá tiềm năng đất nước có hệ thống, tính thay đổi trong sử dụng đất dai và những điều kiện kinh tế xã hội dé chon lọc và thực hiện các sự lựa chọn sử dụng đất đai tốt hơn và hợp lý hơn.
Quy hoạch này dựa trên những điều kiện kinh tế xã hội và phát triển những mong ước của người dân và chung quanh những vị trí đất đai tự nhiên. Do đó quy hoạch đất đai nhất thiết phải là một tiến trình xây dựng những quyết định sao cho thuận tiện công việc phân chia đất đai dé đáp ứng với nhu cầu sử dung. “Quy hoạch đất đai gồm hai loại là quy hoạch phân bé và quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch phân bổ nhằm điều chỉnh các mối quan hệ đất đai qua việc chia lại quỹ dat giữa các ngành và các đơn vị sử dụng đất. Quy hoạch phân bé thé hiện dưới hai hình thức là quy hoạch phân bổ theo ngành ( đất cho nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất cho khu dan cư, đất cho các mục đích chuyên dùng ) và quy hoạch phân bé theo lãnh thổ hành chính ( quy hoạch phân bổ đất cả nước, quy hoạch phân bổ đất cấp tỉnh, quy hoạch phân bổ đất cấp tỉnh, quy hoạch phân bé dat cấp huyện, quy hoạch phân bổ đất cấp xã).
Quy hoạch phân bé đất đai mới chỉ dừng lại ở việc giải quyết một số nội dung như xác định vị trí phân bố, xác định nhu cầu diện tích, xác định hình dạng và ranh giới các khoảnh đất giao cho từng ngành và từng chủ sử dụng đất. Với sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản thì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thiếu nên tổ chức sử dung đất là một điều quan trọng, lâu dài để tăng của cải cho xã hội. Bởi vậy, sau khi quy hoạch phân bé đất phải có loại hình quy hoạch sử đụng đất để sử dụng đất hợp lý và hiệu quả. Quy hoạch sử dụng chỉ có với đất nông nghiệp vá đất lâm nghiệp”.
Phạm Thị Mỹ Dung, Tr 168, Kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam, NXBNN) 2. Dồn điền đỗi thửa Khái niêm dồn điền đổi thửa. “Khái niệm đồn điền đổi thửa (Regrouping of lands, trong tiếng Anh, hay, Remenbreiment, trong tiếng Pháp) là việc tập hợp, dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng to thành các mảnh ruộng nhỏ. Có hai cơ chế chủ yếu dé thựa hiện dồn điền đổi thửa, Một là để cho thị trường ruộng đất, và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chí hỗ trợ sao cho cơ chế nay vận hành tốt hơn.
Hai là, thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định. Theo cách này, các địa phương đều xác định đồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật. Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau” ( theo quĩ MISPA, viện chính sách và chiến lược PTNNNT). “ Tính đến năm 2001 cá nước có khoảng 11 triệu hộ nông dân đang quản lý và sử dụng trên 80 triệu mảnh ruộng và đất có điện tích rất khác nhau.
Bình quân mỗi hộ có từ 5 đến 10 mảnh, cá biệt có hộ có tới 30 mảnh. Đó là thực trạngdo lịch sử để lại kế từ khi thực hiện Nghị định 64/CP ( ngày 27.1993 ) của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dung én định lâu dai vào mục dich sản xuất nông nghiệp. Nhiều địa phương, nhất là các tỉnh ĐBSH như Hưng Yên đã chia ruộng đất có gần, có xa, có tốt, có xấu, có cao, có thấp. Đến nay, thực tế đó đã gây cản trở lớn quá trình phát triển nông nghiệp hàng hóa dựa trên thâm canh và áp dụng công nghệ canh tác ở trình độ cao khó thực hiện cơ giới hóa, gây bat tiện và phát sinh nhiều chi phí vô lý trong quá trình công tác, gây khó khăn cho quá trình chuyển địch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.
Thực tế đó việc “ dồn điền đối thửa “ trở thành nhu cầu bức xúc và tất yếu của quá trình sản xuất nông nghiệp nước ta, nhưng lại là vấn dé rất nhạy cảm và phức tạp, có liên quan đến lợi ích cụ thé của cán bộ địa phương và từng hộ nông dân. Vấn đề đặt ra là thực hiện như thế nào để vừa đạt được mục tiêu giảm tối đa số mảnh ruộng của mỗi hộ mà không gây mất 6n định sản xuất, vừa được sự đồng tỉnh, tự nguyện của hàng chục triệu lao động nông nghiệp.” (Tạp chí Cộng Sản số 11 tháng 6.2001, tr58) Tầm quan trong của dồn điền đổi thửa $% %, Khac phục dần tinh trạng đất sản xuất nông nghiệp bị phân tán manh mún thuận lợi trong việc canh tác của nông dân đồng thời đễ dàng trong việc quản lý của Nhà Nước 4. Tạo điều kiện đưa tiến bộ KHKT, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, phục vụ chuyền đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. - oo Là điều kiện căn bản để chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất tập trung hóa, chuyên môn hóa và sản xuất hàng hóa.
s» Tạo thuận lợi cho chăm sóc và vận chuyển nông sản. Nguyên tắc khi thực hiện dồn điền đối thửa ¢ Khuyến khích nông dân thực hiện đồn điền đổi thửa trên cơ sở tự nguyện dam bảo tính tập trưng, dân chi, công khai cùng có lợi, đoàn kết nông thôn, tránh xáo trộn làm ảnh hưởng dé sản xuất và đời sống. * Xây dựng phương án dồn điền đổi thửa được lập theo đơn vị hành chính xã, thị trấn trong đó lấy đơn vị thôn làm đơn vị tổ chức thực hiện cụ thé công tác chuyển đổi. “On định số hộ, số khẩu, diện tích đất theo ND64/CP ổn định hạng đất.
s* Một số lọai đất nông nghiệp mang tinh bap bênh trong canh tác đất có độ chênh lệch lớn. phải có hệ số chuyển đổi hệ số này do người sử dụng đất bạt, biểu quyết thông qua hạng đất nông nghiệp.