Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của nồng độ naa đến tỉ lệ sống và sinh trưởng của cây kim tiền thảo desmodisum styracifolium osbeck merr trong điều kiện vườn ươm

Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NAA đến tỉ lệ sống và sinh trưởng cây Kim Tiền Thảo trong vườn ươm, giúp tối ưu hóa quy trình nhân giống.

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về cây kim tiền thảo

1.2. Nguồn gốc và phân loại thực vật

1.3. Đặc điểm thực vật học

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung thí nghiệm

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Điều kiện thời tiết khu thí nghiệm

2.4. Vật liệu thí nghiệm

2.5. Phương pháp thí nghiệm

2.6. Quy mô thí nghiệm

2.7. Các bước tiến hành

2.8. Tiêu chuẩn chọn hom

2.9. Phương pháp cắt và xử lý hom sau cắt

2.10. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.11. Phương pháp xử lí số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng NAA đến tỷ lệ sống hom giống Kim tiền thảo

3.2. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng NAA đến thời gian nảy chồi và tỷ lệ nảy chồi hom kim tiền thảo

3.3. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng NAA đến sinh trưởng chồi của hom

3.4. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng NAA đến sinh trưởng lá của hom

3.5. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng NAA đến khối lượng chồi, lá trên hom kim tiền thảo tại thời điểm 60 NSG

3.6. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng NAA đến sinh trưởng bộ rễ trên hom kim tiền thảo tại thời điểm 60 NSG

3.7. Lượng toán chi phí giá thành cây con giâm hom kim tiền thảo

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp nông học tập trung vào việc nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NAA đến tỉ lệ sốngsinh trưởng của cây kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osbeck) Merr) trong điều kiện vườn ươm. Mục tiêu chính là xác định nồng độ NAA tối ưu để cải thiện chất lượng cây con và giảm chi phí sản xuất. Nghiên cứu này nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về cây dược liệu, đặc biệt là cây kim tiền thảo, vốn có giá trị y học cao.

1.1. Bối cảnh và ý nghĩa

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, nhu cầu sử dụng cây dược liệu như cây kim tiền thảo ngày càng tăng. Cây này có tác dụng lợi tiểu, kháng viêm, và hỗ trợ điều trị sỏi thận. Việc nhân giống bằng hom trong vườn ươm được xem là phương pháp hiệu quả để sản xuất cây con chất lượng cao. Nghiên cứu này góp phần vào việc tối ưu hóa quy trình nhân giống, đặc biệt là việc sử dụng NAA để kích thích sinh trưởng.

1.2. Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu nhằm xác định nồng độ NAA phù hợp để tăng tỉ lệ sốngsinh trưởng của cây kim tiền thảo. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng NAA trong quá trình nhân giống.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2023 với thiết kế thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD). Sáu nghiệm thức nồng độ NAA (0 ppm, 200 ppm, 400 ppm, 600 ppm, 800 ppm, 1000 ppm) được áp dụng, mỗi nghiệm thức lặp lại ba lần. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tỉ lệ sống, chiều dài rễ, khối lượng chồi, và hệ số chất lượng Dickson.

2.1. Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu CRD với sáu nghiệm thức nồng độ NAA. Mỗi nghiệm thức gồm 30 hom, được theo dõi trong điều kiện vườn ươm với các yếu tố môi trường được kiểm soát chặt chẽ.

2.2. Chỉ tiêu đánh giá

Các chỉ tiêu chính bao gồm tỉ lệ sống, chiều dài rễ, khối lượng chồi tươi và khô, và hệ số chất lượng Dickson. Các chỉ tiêu này được đo lường và so sánh giữa các nghiệm thức để đánh giá hiệu quả của NAA.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả cho thấy nồng độ NAA 600 ppm mang lại hiệu quả tốt nhất với tỉ lệ sống cao nhất (37,2 rễ), chiều dài rễ đạt 35,2 cm, và khối lượng chồi tươi đạt 43,1 g. Hệ số chất lượng Dickson tại nồng độ này cũng đạt giá trị cao nhất (0,24), chứng tỏ chất lượng hom giống tốt. Nồng độ 800 ppm cho giá thành cây con thấp nhất, phù hợp với mục tiêu giảm chi phí.

3.1. Ảnh hưởng của NAA đến tỉ lệ sống

Nồng độ NAA 600 ppm cho tỉ lệ sống cao nhất, đồng thời cải thiện đáng kể chiều dài rễkhối lượng chồi. Điều này cho thấy NAA có tác động tích cực đến quá trình ra rễ và sinh trưởng của cây kim tiền thảo.

3.2. Hiệu quả kinh tế

Nồng độ 800 ppm cho giá thành cây con thấp nhất, phù hợp với mục tiêu giảm chi phí sản xuất. Tuy nhiên, nồng độ 600 ppm vẫn được khuyến nghị do chất lượng cây con vượt trội.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu kết luận rằng nồng độ NAA 600 ppm là tối ưu để cải thiện tỉ lệ sốngsinh trưởng của cây kim tiền thảo trong điều kiện vườn ươm. Đề xuất áp dụng nồng độ này trong quy trình nhân giống để đảm bảo chất lượng cây con và hiệu quả kinh tế.

4.1. Kết luận

Nồng độ NAA 600 ppm mang lại hiệu quả tốt nhất về tỉ lệ sống, chiều dài rễ, và khối lượng chồi, đồng thời đạt hệ số chất lượng Dickson cao nhất.

4.2. Đề xuất

Áp dụng nồng độ NAA 600 ppm trong quy trình nhân giống cây kim tiền thảo để đảm bảo chất lượng cây con và tối ưu hóa chi phí sản xuất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tống quan về cây kim tiền thảo 1. Nguồn gốc và phân loại thực vật Cây kim tiền thảo tên khoa học thảo (Desmodisum styracifolium (Osbeck) Merr). Tên gọi khác như: đồng tiền lông, mắt trâu, dây sâm lông (Quảng Nam — Da Nang), vay rồng, bươm bướm (Quảng Ninh), bạch nhĩ thảo, bảo trì liên, biến địa kimtién, cửu lý hương, nhũ hương đẳng, phật nhĩ thảo, thiên niên lãnh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điền).

Kim tiền thảo được phát hiện nhiều ở Đông Nam Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Nhật Ban (Trung tâm phát triển kinh tế nông thôn, 2020). Cây kim tiền thảo thảo (Desmodisum styracifolium (Osbeck) Merr) là một loài dược liệu phan bố ở Đông nam Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam và Nhật Bản. Ở Việt Nam, cây phân bồ rộng rãi ở vùng đồi núi, thường gặp ở những chỗ sáng, trên đất cát pha, vùng trung du Hà Tây, Lạng Sơn, Ninh Bình, Hải Phòng (Võ Văn Cho, 1997; Đỗ Tắt lợi, 1999). Theo Global Biodiversity Information Facility (2021), kim tiền thảo đuợc phân loại như sau: Giới: Plantae, Ngành: Magnoliophyta, Lop: Magmoliopsida, Bộ: Fabales, Chi: Desmodisum, Loài: D.

Phân nhóm kim tiền thao gồm: Dai kim tiền thao Tứ Xuyên (thuộc ho Anh thảo), Tiểu kim tiền thảo Tứ Xuyên (thuộc họ Toàn hoa), kim tiền thảo Quảng Đông (thuộc họ đậu), kim tiền thảo Giang Tây (thuộc ho Hoa tán), kim tiền thảo Giang Tô (thuộc họ Hoa môi) (Nguyễn Thị Phương Thao, 2022). Kim tiên thảo là cây ưa sáng, sông lưu niên, tái sinh hạt, choi gốc, chối thân, chôi cành đều khỏe. Với các đặc điểm hình thái và sinh thái của cây kim tiền thảo không có 3 đòi hỏi khắt khe về điều kiện khí hậu, rất phù hợp với các điều kiện đất sườn đồi và đất vàn cao (Trung tâm phát triển kinh tế nông thôn, 2020).2 Đặc điểm thực vật học Theo Trương Thị Đẹp (2007), cây kim tiền thảo là cây thân thảo sống lưu niên, tái sinh khỏe, mọc bò, thân hình trụ, màu xanh hơi vàng, phủ đầy lông mịn màu vàng hoe. Rễ gốc và rễ thân phát triển mạnh và đều, có nhiều nốt sần màu nâu hơi trắng lúc non chứa vi khuân cô định đạm cộng sinh.

Rễ: Ở mặt dưới của cây có rất nhiều rễ phụ mọc ăn sâu xuống đất và rễ phụ tập trung moc ở đốt và mắt lá của cây. Quá trình phát triển của bộ rễ có thé phân ra làm 2 thời kỳ: thời kỳ thứ nhất, rễ cái và rễ phụ phát triển mạnh kéo đài ra và sinh nhiều rễ con, thời kỳ này thường kéo dài từ 30 — 40 ngày sau mọc. Thời ky thứ hai, bộ rễ phát triển chậm dần, rễ con không nhú ra nữa, thậm chí có một số rễ con rụng đi. Rễ con có nhiệm vụ hút nước và cung cấp đầy đủ chất dinh đưỡng cho sự phát triển của thân, lá và giúp cho cây tăng khả năng đậu quả (Trương Thị Đẹp, 2007).

Thân: là loại thân cỏ, mọc bò, cây có nhiều đốt, các đốt cách nhiều khoảng 2 — 3 em. Thân hình trụ, màu xanh hơi vàng, phủ đầy lông mịn màu vàng hoe dài 30 — 50 em, có khi tới 80 cm, đường kính 0,1 — 0,3 em, có nhiều đốt cách nhau từ 2 — 3 em. Khi vi phẫu thân cây thì có tiết điện tròn. Biểu bì có cutin mỏng, đôi khi có lỗ khí, mang lông che chở và lông tiết: Lông che chở đa bào ở khắp cùng, gồm 1 — 2 tế bào ngắn ở phía gốc và 1 tế bào rất đài ở phía ngọn, có 3 dạng: Lông nhỏ, rất nhiều, dài 40 — 120 um, ngang 6,5 — 7,5 um, đầu thắng hay cong như cái móc câu, vách nhẫn.

Lông vừa, ít hon dạng trên, dai 190 — 360 wm, ngang 12,5 — L7,5 um, đầu thang, vách nhẫn. Lông rất dài, hiém gặp, dai 750 — 850 um, ngang 25 — 27,5 um, đầu thang, vách lắm tam. Lông tiết ít gặp hơn lông che chở, có 2 dạng: Lông tiết có dạng đặc biệt gồm 3 phan: chân rất ngắn 1 tế bào, bụng phình to dai 70 — 90 pm gồm 4 — 5 lớp tế bào xếp chồng lên nhau, mỗi lớp có 1 — 4 tế bao, trên cùng là một phần thuôn hẹp dau tròn, dai 130 — 210 pm, thường bị gãy ngang, gồm 4 — 6 tế bào xếp chồng lên nhau (TrươngThị Đẹp, 2007). Lá: kép mọc so le gồm một hoặc ba lá chét tròn dài 1,8 — 3,4 cm, rộng 2 — 3,5 cm, lá chét ở giữa to hơn 2 lá bên, đầu và gốc lá hơi lõm, hình dạng giống con mắt hay đồng tiền, lá chét ở giữa to hơn hai lá bên.

Cuống lá dai 2 - 4 cm, hình trụ phù ở đáy, phủ day lông trang Hai lá kèm hình mũi mác, dai 6 — 9 mm, ngang 2 — 3 mm, nhiều gân dọc, day lông trắng min. Lá kèm con nhỏ, hình tam giác. Lá chét có phiến tròn hoặc hơi xoăn, đường kính 2 — 4 cm, ít khi đến 5 cm, mép nguyên, đỉnh tròn hay tù hoặc chia 2 thùy cạn, đáy hình tim, mặt trên nhẫn, màu hơi vàng hoặc lục xám, mặt dưới mốc do phủ đầy lông mịn màu trắng, gân lá kiểu lông chim nỗi rõ ở mặt dưới, gân phụ 8 — 10 đôi, cuống lá dai 1 — 2 mm, phủ day lông trắng mịn. Hai lá chét bên có phần phiến hai bên, gân giữa không đều nhau ở sốc, một bên to, một bên hơi nhỏ hơn (Trương Thị Đẹp, 2007).

Gan lá: Lôi ít ở mặt trên, nhiều ở mặt dưới. Biểu bì trên nhẫn, lớp cutin mỏng. Biểu bì đưới có cutin dày, rất nhiều lông che chở hình dạng giống như ở thân, tuy nhiên dạng lông dai có số lượng nhiều hơn, lông tiết ít gặp và hình dang giống như ở thân. Mô day tròn ngay đưới biểu bì, gồm 1 — 2 lớp tế bào vách ít day.

Dưới biểu bì trên thường có một bó dẫn nhỏ được bao quanh bởi vòng mô cứng, vách tế bảo dày nhiều hay ít; hai bên vòng mô cứng là 2 cụm tế bảo mô mềm, mỗi cụm gồm2 lớp tế bao thuôn dài xếp so le nhau. Libe gỗ xếp thành 3 vùng: Một cung chính ở giữa, gỗ xếp ở trên và libe ở dưới, trụ bì hóa mô cứng. Phía trên là 1 hoặc 2 cụm libe gỗ, 1 cụm lớn va 1 cụm nhỏ, libe ở trong và gỗ tạo thành một vùng bên ngoài, giữa cung chính và cụm libe gỗ có 2 — 3 bó dẫn nhỏ. Mô mềm gồm những tế bào gần tròn, vách mỏng, xếp chừa những đạo nhỏ; vùng phía trên cung libe gỗ chính thì đa số tế bào có vách tâm chất gỗ.

Tinh thể calci oxalat hình lăng trụ, rải rác trong mô mềm nhưng nhiều trong lớp tế bào ngay dưới sợi trụ bì có tác dụng dé bao mòn sỏi thận (Trương Thị Đẹp, 2007). Phiến lá: Biểu bì trên ít lỗ khí, không có lông che chở và lông tiết. Biéu bì đưới có nhiều lỗ khí, lông che chở và lông tiết hình đạng giống như ở thân. Thịt lá có cấu tạo dị thể: Mô mềm giậu gồm 2 lớp tế bào hình chữ nhật ngắn, mô mềm khuyết gồm những tế bào không đều, rải rác có những bó libe gỗ nhỏ.

Tinh thể calci oxalat hình lăng trụ, rải rác trong mô giậu và mô khuyết (Trương Thị Đẹp, 2007). Cuống lá kim tiền thảo: Có hình tam giác. Biéu bì với lớp cutin mỏng, rải rác có lỗ khí. Lông che chở rải rác khắp cùng, hình dạng và tỷ lệ các loại giống như ở thân.

Lông tiết ít, giống như ở thân. Mô day tròn gồm 2 — 4 lớp tế bào vách rất dày ở góc; ở cạnh thì chỉ có 1 lớp tế bao vách ít day. Mô mềm vỏ tế bào gần tròn, không đều, vách mỏng; giữa các tế bào có đạo nhỏ (Trương Thị Đẹp, 2007). Cụm hoa: thường mọc ở kẽ lá hoặc đầu ngọn thân thành chùm ngắn hơn lá dạng chùm hay chùy ở nách hay ở ngọn, có lông mềm màu trắng mịn, thường có lá ở gốc các hoa.

Hoa màu hồng, xếp 2 — 3 cái một; chùm dài đến 5 cm mỗi mau của chùm là một xim co gồm 2 hoa có chung một lá bắc, giữa 2 gốc cuống hoa có một u lồi nhỏ. Hoa nhỏ, không đều, lưỡng tính. Hai cuống hoa của kim tiền thảo hướng ra hai bên sau đó xụ xuống trên quả. Đài hoa có 4 răng đều, có lông ngắn, tràng có cánh cờ hình bầu dục hoặc hình bướm, các cánh bên thuôn, cánh thìa cong có tai; nhị 2 bó; bầu hơi có lông.

Mùa hoa thường rơi vào tháng 6 đến tháng 9 đương lịch. Hai cuống hoa của kim tiền thảo hướng ra hai bên sau đó xụ xuống trên quả. Đài cao 3 — 4 mm, có nhiều lông mịn ở mặt ngoài, nhẫn ở mặt trong, ton tại ở gốc quả. Lá đài dính nhau một ít bên dưới thành một ông cao 1 mm, phía trên chia thành 5 thùy hình tam giác không đều, dai 3 — 4 mm, ngang 1 — 2 mm, tiền khai lợp; các thùy không bằng nhau tạo thành hai môi kiểu 2/3, môi trên ngắn hơn môi dưới va chia thành 2 thùy nhỏ hình tam giác ở đỉnh, môi giữa gồm 3 thùy dính nhau một ít phía dưới, thùy giữa dài hơn 2 thùy bên.

Tràng cao khoảng 6 mm uốn cong về phía sau. Cánh hoa màu tím hồng, nhẫn, nhiều gân dọc, không đều, tiền khai cờ; cánh cờ to nhất ở phía sau, gần tròn, đường kính 5 — 6 mm, đầu chia 2 thùy cạn; 2 cánh bên nhỏ hơn, thuôn dai, cao 4— 5 mm, ngang 3 mm, gốc có 1 tai nhỏ; lườn cao 5 mm, ngang 2 mm, bao lấy cơ quan sinh sản, có 2 tai nhỏ ở hai bên. Nhị hoa không đều, 9 nhị phía trước dính nhau ở phần lớn chỉ nhị thành một ống cao 4— 5 mm xẻ đọc ở phía sau bao lay cơ quan sinh sản, nhị sau rời, dài 4 mm. Chỉ nhị màu trắng, nhẫn.

Bao phấn hình bầu dục, màu vànghướng trong, nứt đọc; chỉ nhị gan vào đáy bao phan. Hạt phan rời, màu vàng nhạt, thường hình cầu ít khi hình bầu dục có 2 rãnh doc ở hai bên. Lá noãn tạo thành bau 1 6 đựng 5 — 6 noãn đính ở mép thành 2 hàng so le nhau. Bau trên, màu luc, dep, dai khoảng 2 mm, day lông trắng.

Vòi nhụy dang sợi, nhăn, màu lục nhạt, đính ở đỉnh bau. Đầu nhụy nhỏ, hình khối tròn, màu lục (Trương Thị Đẹp, 2007). Not sần: Bắt đầu hình thành khi cây có 2 — 3 lá thật và đạt tối đa vào thời điểm hoa rộ. Nốt san hình thành do sự cộng sinh giữa rễ cây họ đậu với vi khuân Rhizobium ở các lông hút của rễ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề "Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến tỉ lệ sống và sinh trưởng cây Kim Tiền Thảo trong vườn ươm" nghiên cứu tác động của nồng độ NAA (Naphthalene Acetic Acid) đến sự phát triển và tỷ lệ sống của cây Kim Tiền Thảo. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quý giá về cách tối ưu hóa điều kiện sinh trưởng cho loại cây này mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của các chất điều hòa sinh trưởng trong nông nghiệp. Những kết quả từ nghiên cứu có thể áp dụng trong thực tiễn để nâng cao hiệu quả sản xuất cây trồng, từ đó mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản lý và phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ sinh học nghiên cứu đa dạng sinh học và sinh thái họ quao bignoniaceae juss 1789 trong hệ thực vật nam bộ việt nam, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về sự đa dạng sinh học trong hệ thực vật. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thực trạng hoạt động và một số giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu cho công ty cổ phần thương mại khánh trang cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phát triển thương hiệu trong lĩnh vực nông sản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và phát triển bền vững.