Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên rừng tại Việt Nam đang chịu áp lực suy thoái nghiêm trọng về cả diện tích lẫn chất lượng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tình trạng khai thác quá mức, sử dụng tài nguyên thiếu bền vững, cùng các hoạt động chuyển đổi đất rừng, đốt nương làm rẫy và sự hạn chế trong công tác quản trị lâm nghiệp của chính quyền cơ sở. Nhiều loài cây gỗ bản địa có giá trị kinh tế và sinh thái cao đã bị triệt hạ mạnh mẽ, dẫn đến tình trạng suy giảm nguồn cây mẹ gieo giống và làm mất khả năng phục hồi tự nhiên của quần xã rừng.

Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis (Gagnep.) Chang & Miau) là loài cây gỗ lớn thuộc nhóm IIA (danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại). Cây sinh trưởng chủ yếu trên các đai núi đá vôi xen kẽ đất mùn, tốc độ tăng trưởng rất chậm; những cá thể có đường kính thân từ 80 cm đến 100 cm thường có tuổi thọ lên tới 200–300 năm. Do chất lượng gỗ cơ lý đặc biệt cứng chắc, loài cây này thường xuyên bị khai thác trái phép phục vụ xây dựng, làm tà vẹt và làm thớt gỗ thương phẩm. Hiện nay, các quần thể Nghiến gân ba trưởng thành tự nhiên đã bị suy giảm trên 50%, phân bố manh mún ở một số vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và các huyện vùng cao phía Bắc, trong đó có huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, Nghiến gân ba phân bố rải rác, số lượng cá thể còn lại rất ít, gây khó khăn cho công tác giám sát và quản lý bảo vệ.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ khoa học sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:

    • Xác định thực trạng phân bố và một số đặc điểm lâm học của cây Nghiến gân ba tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
    • Đề xuất hệ thống các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm bảo tồn loài cây Nghiến gân ba tại khu vực nghiên cứu.
  2. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Điều tra đặc điểm khai thác, sử dụng và mức độ hiểu biết của cộng đồng địa phương đối với loài Nghiến gân ba.
    • Nghiên cứu các đặc điểm hình thái nổi bật của loài (thân, vỏ, cành, lá, hoa, quả, hạt).
    • Đánh giá đặc điểm sinh thái nơi loài phân bố, bao gồm các yếu tố địa hình, điều kiện khí hậu và tính chất lý - hóa học của đất.
    • Phân tích cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi có Nghiến gân ba sinh trưởng (cấu trúc tổ thành loài, mật độ tầng cây cao, đặc điểm tầng cây tái sinh, cấu trúc tầng thứ, độ tàn che, thành phần cây bụi và thảm tươi).
    • Xác định trữ lượng gỗ của cây Nghiến gân ba tại khu vực điều tra.
    • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh và chính sách bảo tồn loài.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Loài Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis).
    • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
    • Phạm vi thời gian: Khóa luận được tiến hành thu thập số liệu thực địa và xử lý nội nghiệp từ tháng 01/2019 đến tháng 06/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa các nền tảng lý thuyết sinh thái học rừng nhiệt đới, bao gồm học thuyết hệ sinh thái của Arthur Tansley, các nguyên lý phân tầng và cấu trúc rừng mưa nhiệt đới của P.W. Richards, lý thuyết điều tiết và xử lý lập địa lâm sinh của G.N. Baur, cùng các tiêu chí đánh giá tình trạng đe dọa tuyệt chủng theo Sách đỏ IUCN (các bậc CR, EN, VU) và Sách đỏ Việt Nam. Về mặt phân loại học, đề tài tiếp cận hệ thống phân loại của chi Excentrodendron thuộc họ Đay (Tiliaceae), bộ Bông (Malvales), đồng thời đối chiếu các tên đồng nghĩa trong lịch sử phân loại thực vật (Pentace tonkinensis, Parapentace tonkinensis, Burretiodendron hsienmu, Burretiodendron tonkinensis).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và nội nghiệp được triển khai kết hợp nhiều kỹ thuật lâm học chuyên ngành:

  • Phương pháp kế thừa dữ liệu: Thu thập tài liệu khí tượng thủy văn huyện Phú Lương, bản đồ hiện trạng rừng, số liệu kinh tế - xã hội theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên và các công trình nghiên cứu lâm học đã công bố về loài Nghiến gân ba.
  • Phương pháp phỏng vấn xã hội học: Lập phiếu điều tra cấu trúc và phỏng vấn trực tiếp 30 hộ gia đình tại 2 thôn có rừng núi đá (17 hộ tại xóm Đồng Xiền và 13 hộ tại xóm Ó), kết hợp quan sát mẫu vật và tham vấn cán bộ kiểm lâm địa bàn cùng người dân có kinh nghiệm đi rừng.
  • Phương pháp điều tra thực địa trên ô tiêu chuẩn (OTC):
    • Thiết lập 9 OTC điển hình tạm thời tại các khu vực có phân bố tự nhiên của Nghiến gân ba. Mỗi OTC có diện tích 1.000 m² ($25\text{ m} \times 40\text{ m}$), cạnh dài đặt song song với đường đồng mức.
    • Tầng cây cao: Đo đếm toàn bộ các cây thân gỗ có đường kính ngang ngực $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$. Thu thập các chỉ tiêu: tên loài, chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng thước đo chiều cao Blum-Leiss; đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m ($D_{1.3}$) bằng thước kẹp kính vạch milimét; đường kính tán lá ($D_t$) theo hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc bằng thước dây.
    • Đo độ tàn che: Sử dụng máy đo Spherical Densiometer Model-A đo tại 5 điểm trong mỗi OTC theo công thức $\text{ĐTC} = \frac{n \times 1{,}04}{100}$ (với $n$ là số ô bị che khuất).
    • Tầng cây tái sinh và cây bụi thảm tươi: Trong mỗi OTC lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² ($5\text{ m} \times 5\text{ m}$) tại 4 góc và vị trí trung tâm (tổng cộng 45 ODB). Thu thập tên loài cây tái sinh, phân cấp chiều cao, đánh giá phẩm chất (tốt, trung bình, xấu), nguồn gốc tái sinh (chồi hoặc hạt) và xác định cây tái sinh có triển vọng ($H_{vn} \ge 2\text{ m}$, sinh trưởng tốt). Điều tra cây bụi thảm tươi trên các dải vòng tròn đồng tâm bán kính 2 m.
  • Phương pháp khảo sát hình thái: Đo đếm trực tiếp các chỉ tiêu kích thước trên 12 cá thể cây Nghiến gân ba ngoài thực địa; kết hợp thu mẫu tiêu bản thực vật để giám định tên khoa học qua phương pháp chuyên gia.
  • Phương pháp đánh giá đất: Phân tích phẫu diện đất tại 9 OTC về đặc tính lý tính (tỷ lệ đá lộ đầu, tầng dày, độ ẩm, độ xốp, kết cấu) và phân tích trong phòng thí nghiệm các chỉ tiêu hóa tính ($\text{pH}_{\text{KCl}}$, Nitơ tổng số, $\text{P}_2\text{O}_5$ tổng số, $\text{K}_2\text{O}$ tổng số, hàm lượng mùn).
  • Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp: Xử lý thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel.
    • Chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - IVI): Xác định cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ qua công thức: $$IV_i% = \frac{N_i% + G_i%}{2}$$ Trong đó: $N_i%$ là tỷ lệ số cá thể loài $i$, $G_i%$ là tỷ lệ tổng tiết diện ngang của loài $i$. Chỉ những loài có $IV_i% \ge 5%$ mới tham gia vào công thức tổ thành sinh thái của lâm phần.
    • Tổ thành cây tái sinh: Tính theo tỷ lệ phần trăm cá thể ($n_j% \ge 5%$).
    • Mật độ quần xã: Quy đổi mật độ cá thể về đơn vị cây/ha qua công thức $N/\text{ha} = \frac{n}{S} \times 10.000$.
    • Trữ lượng gỗ: Áp dụng phương pháp ước lượng khoảng trong thống kê toán học với độ tin cậy $95%$ ($U_{\alpha/2} = 1{,}96$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu dựa trên thực trạng suy thoái rừng tự nhiên vùng núi phía Bắc và tình trạng nguy cấp của loài Nghiến gân ba. Phần mở đầu xác định rõ ràng mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, nội dung nghiên cứu, cùng ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn trong công tác bảo tồn gen thực vật quý hiếm tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Chương này tổng kết có hệ thống các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, cấu trúc rừng và bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới và ở Việt Nam. Tác giả tổng hợp các công trình phân loại học thực vật của Pierre, Lecomte, Phạm Hoàng Hộ, Lê Mộng Chân; phân tích lịch sử danh pháp loài Nghiến gân ba qua các thời kỳ; đồng thời khái quát các điều kiện tự nhiên, địa hình, khí hậu, mạng lưới giao thông và hiện trạng kinh tế - xã hội của xã Yên Lạc, huyện Phú Lương.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết về đối tượng nghiên cứu (Excentrodendron tonkinensis), địa điểm thực hiện (xã Yên Lạc), tiến trình thời gian (tháng 01–06/2019), các nội dung nghiên cứu chuyên sâu, cùng hệ thống phương pháp luận thu thập số liệu dã ngoại (lập 9 OTC, 45 ODB, điều tra hình thái 12 cây, phỏng vấn 30 hộ dân, phân tích mẫu đất) và các công thức toán học thống kê nội nghiệp để xử lý chỉ số IVI, mật độ, tái sinh và trữ lượng.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Nhận thức của cộng đồng và hiện trạng khai thác

Kết quả khảo sát 30 hộ dân cho thấy sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức bảo vệ rừng tại địa phương:

Địa bàn Số hộ điều tra Tỷ lệ nhận biết loài Nghiến (%) Tỷ lệ không nhận biết (%) Tỷ lệ hộ còn khai thác (%) Mức độ tác động đến loài
Xóm Đồng Xiền 17 70,59 (12 hộ) 29,41 (5 hộ) 29,41 (5 hộ) Tác động ở quy mô rất nhẹ
Xóm Ó 13 69,23 (9 hộ) 30,77 (4 hộ) 0,00 (0 hộ) Không còn khai thác, không tác động

Tại xóm Ó, người dân đã chấm dứt hoàn toàn việc khai thác gỗ Nghiến. Tại xóm Đồng Xiền, còn 29,41% số hộ có tác động nhẹ do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phụ thuộc vào nguồn thu từ rừng. Các yếu tố thuận lợi gồm sự quan tâm của chính quyền và ý thức cộng đồng nâng cao; khó khăn chủ yếu là địa hình hiểm trở, lực lượng kiểm lâm mỏng và áp lực từ việc mở đường giao thông nông thôn.

2. Đặc điểm hình thái học

Khảo sát chi tiết trên 12 cây Nghiến gân ba mẫu tại khu vực nghiên cứu ghi nhận:

  • Thân cây thẳng tròn, vỏ ngoài màu xám tro, bề mặt có nốt sần sùi.
  • Kích thước thân cây: Đường kính ngang ngực $D_{1.3}$ trung bình đạt 8,25 cm (dao động từ 5 cm đến 11 cm; giá trị cực đại ghi nhận 18 cm); chiều cao vút ngọn $H_{vn}$ trung bình đạt 7,33 m (dao động từ 5 m đến 11 m; giá trị cực đại 18 m).
  • Cành non không có lông. Lá đơn mọc cách, phiến lá hình trứng rộng, kích thước 10–12 cm $\times$ 7–10 cm, mép lá nguyên, có 5–7 đôi gân bên với 3 gân xuất phát từ gốc lá đặc trưng, cuống lá dài 3–7 cm.
  • Quả khô tự mở, dài 3–4 cm, đường kính 1,8 cm. Mùa hoa nở rộ vào tháng 2–3, mùa quả chín tập trung vào tháng 6–7.

3. Đặc điểm lập địa và sinh thái học

  • Địa hình và khí hậu: Nghiến gân ba phân bố ở đai độ cao dưới 400 m, sườn dốc dưới 50°, hướng phơi chủ đạo là Tây - Bắc. Nhiệt độ bình quân năm khu vực là 22°C (tối cao 33°C, tối thấp 15,6°C). Tổng lượng mưa bình quân năm đạt 2.045 mm (tháng 7 cao nhất đạt 481,1 mm; mùa khô thấp nhất đạt 9,6 mm/tháng).
  • Tính chất lý tính của đất: Quần thể Nghiến gân ba phát triển trên đất núi đá vôi có mức độ đá lộ đầu rất cao, chiếm trên 90% đến 95% diện tích mặt đất (riêng OTC 3 có tầng đất dày 3–20 cm). Đất chủ yếu là dạng mùn thô màu xám đen hoặc nâu xám, tơi xốp, giữ ẩm tốt, kết cấu viên hạt và chỉ phân bố tích tụ trong các hốc, khe nứt đá vôi.
  • Tính chất hóa tính của đất:
    • Độ chua: $\text{pH}_{\text{KCl}}$ biến động từ 3,38 đến 5,4 (trung bình 4,27), thuộc nhóm đất chua đến chua nhiều.
    • Hàm lượng dinh dưỡng: Nitơ tổng số ở mức trung bình (0,10% – 0,35%); $\text{P}_2\text{O}_5$ tổng số từ trung bình đến giàu (0,02% – 0,25%); $\text{K}_2\text{O}$ tổng số ở mức khá đến giàu (0,60% – 2,68%); hàm lượng mùn đạt mức trung bình đến giàu (2,25% – 6,29%).

4. Cấu trúc quần xã thực vật và trữ lượng

  • Tổ thành tầng cây gỗ: Quần xã có thành phần loài đa dạng, bao gồm Mạy puôn, Sấu, Dâu da xoan, Lát hoa, Dướng. Số lượng loài tham gia công thức tổ thành biến động: chân núi có 5–7 loài, sườn núi có 5–8 loài, đỉnh núi có 6–7 loài.
  • Vị thế sinh thái và mật độ: Chỉ số quan trọng $IV_i%$ của Nghiến gân ba dao động từ 1,29% (tại OTC 1) đến 4,09% (tại OTC 5). Do $IV_i% < 5%$, Nghiến gân ba không nằm trong nhóm loài chiếm ưu thế sinh thái của lâm phần. Mật độ cây gỗ toàn lâm phần đạt từ 420 đến 510 cây/ha; trong đó mật độ cá thể Nghiến gân ba rất thấp, chỉ đạt 10 đến 30 cây/ha (1–3 cây/OTC 1.000 m²).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm về đặc điểm lâm học của loài Nghiến gân ba tại địa bàn xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên qua bảng tổng hợp các chỉ tiêu chính:

Tiêu chí lâm học / Sinh thái Kết quả định lượng tại khu vực nghiên cứu
Phân bố lập địa Núi đá vôi, độ cao < 400 m, độ dốc < 50°, hướng phơi Tây - Bắc
Tỷ lệ đá lộ đầu Rất cao (> 90% – 95%), đất tích tụ trong các khe và hốc đá
Độ chua của đất ($\text{pH}_{\text{KCl}}$) 3,38 – 5,4 (trung bình 4,27 – đất chua)
Hàm lượng mùn và dinh dưỡng Mùn: 2,25% – 6,29%; Nitơ TS: 0,10% – 0,35%; $\text{K}_2\text{O}$: 0,60% – 2,68%
Kích thước thân cây điều tra $D_{1.3}$ trung bình: 8,25 cm (5–11 cm); $H_{vn}$ trung bình: 7,33 m (5–11 m)
Mật độ cá thể Nghiến gân ba 10 – 30 cây/ha (chiếm 1 – 3 cây/OTC 1.000 m²)
Mật độ tầng cây gỗ toàn lâm phần 420 – 510 cây/ha
Chỉ số giá trị quan trọng ($IV_i%$) 1,29% – 4,09% (không đạt ngưỡng ưu thế sinh thái $\ge 5%$)

Từ các phát hiện thực địa, tác giả đưa ra các nhóm kiến nghị và giải pháp bảo tồn:

  • Tăng cường công tác tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt các cá thể Nghiến gân ba hiện còn trên các dải núi đá vôi.
  • Thực hiện hỗ trợ sinh kế và chuyển đổi nghề nghiệp cho các hộ dân nghèo tại xóm Đồng Xiền nhằm loại bỏ triệt để áp lực khai thác rừng trái phép.
  • Áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh xúc tiến tái sinh tự nhiên quanh các cây mẹ gieo giống, dọn dẹp dây leo thảm tươi chèn ép cây con.
  • Quy hoạch quản lý chặt chẽ quá trình thi công hạ tầng giao thông liên xã để hạn chế chia cắt và xâm hại sinh cảnh rừng tự nhiên.

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã bổ sung nguồn dữ liệu dã ngoại về đặc tính hình thái, đất đai và cấu trúc quần xã có Nghiến gân ba sinh trưởng tại vùng núi đá vôi huyện Phú Lương, tạo tiền đề cho các chương trình bảo tồn nguồn gen thực vật nguy cấp cấp địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số giới hạn xuất phát từ điều kiện thực hiện:

  • Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 6 tháng (01/2019 – 06/2019), chưa theo dõi trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng và biến động vật hậu học qua nhiều năm.
  • Số lượng cá thể Nghiến gân ba bắt gặp và đo đếm hình thái còn ít (12 cây), số lượng ô tiêu chuẩn dừng ở mức 9 OTC tạm thời.
  • Địa hình núi đá hiểm trở với tỷ lệ đá lộ đầu trên 90% gây cản trở việc đào phẫu diện đất chuyên sâu, dẫn đến một số chỉ tiêu hóa - lý tính phải sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu kết hợp phân tích mẫu điểm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Mở rộng diện tích khảo sát sang toàn bộ các xã có đai núi đá vôi lân cận thuộc huyện Phú Lương và tỉnh Bắc Kạn.
  • Thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm gieo ươm, nhân giống nhân tạo loài Nghiến gân ba từ hạt để phục vụ công tác trồng rừng phục hồi nguồn gen.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái và Bảo tồn Đa dạng sinh học tham khảo phương pháp điều tra thực vật trên địa hình núi đá vôi hiểm trở.
  • Cán bộ Chi cục Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phú Lương sử dụng dữ liệu thực tế về mật độ và tọa độ phân bố để xây dựng phương án khoanh nuôi bảo vệ.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến phương pháp ứng dụng chỉ số quan trọng IVI và đánh giá tái sinh tự nhiên của loài cây gỗ nhóm IIA.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài Nghiến gân ba tại xã Yên Lạc phân bố trong điều kiện địa hình và lập địa như thế nào? Nghiến gân ba tại xã Yên Lạc phân bố ở đai độ cao dưới 400 m so với mực nước biển, độ dốc sườn núi dưới 50°, hướng phơi chủ yếu là hướng Tây - Bắc. Đất nơi cây mọc có tỷ lệ đá lộ đầu rất cao (chiếm trên 90% đến 95%), đất mùn xám đen tơi xốp, kết cấu viên hạt và chủ yếu tích tụ trong các hốc hoặc khe nứt đá vôi.

2. Thực trạng khai thác và nhận thức của người dân tại 2 xóm điều tra có sự khác biệt gì? Tại xóm Ó, 69,23% hộ nhận biết được loài và 100% số hộ được phỏng vấn đã chấm dứt hoàn toàn hoạt động khai thác, không còn tác động đến cây Nghiến. Tại xóm Đồng Xiền, 70,59% hộ nhận biết loài nhưng vẫn còn 29,41% số hộ có tác động khai thác ở quy mô rất nhẹ do điều kiện kinh tế khó khăn.

3. Mật độ và vị thế của cây Nghiến gân ba trong cấu trúc tầng cây gỗ tại khu vực nghiên cứu đạt mức nào? Mật độ Nghiến gân ba rất thấp, chỉ đạt từ 10 đến 30 cây/ha (tương ứng 1–3 cây trong mỗi OTC 1.000 m²), trong khi mật độ tầng cây gỗ toàn lâm phần là 420–510 cây/ha. Chỉ số giá trị quan trọng ($IV_i%$) của Nghiến chỉ dao động từ 1,29% đến 4,09%, chưa đạt ngưỡng 5% để tham gia vào công thức tổ thành nhóm loài ưu thế sinh thái của lâm phần.

4. Tính chất hóa học của đất nơi cây Nghiến gân ba sinh trưởng tại xã Yên Lạc có đặc điểm gì? Đất thuộc loại đất chua với $\text{pH}_{\text{KCl}}$ trung bình đạt 4,27 (dao động từ 3,38 đến 5,4). Hàm lượng Nitơ tổng số ở mức trung bình (0,10% – 0,35%), $\text{P}_2\text{O}_5$ tổng số từ trung bình đến giàu (0,02% – 0,25%), $\text{K}_2\text{O}$ tổng số ở mức khá đến giàu (0,60% – 2,68%) và hàm lượng mùn đạt từ trung bình đến giàu (2,25% – 6,29%).

5. Kích thước hình thái bình quân của các cá thể Nghiến gân ba được đo đếm tại hiện trường là bao nhiêu? Qua đo đếm 12 cây mẫu, đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) trung bình đạt 8,25 cm (phổ biến từ 5 cm đến 11 cm) và chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) trung bình đạt 7,33 m (phổ biến từ 5 m đến 11 m), thân cây thẳng tròn với lớp vỏ màu xám tro có nốt sần.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Tùng Lâm đã cung cấp bức tranh thực tế về đặc điểm lâm học, hình thái và lập địa phân bố của loài Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả định lượng chỉ ra rằng mật độ cá thể của loài hiện còn rất thấp (10–30 cây/ha) và không giữ ưu thế trong cấu trúc tầng cây gỗ ($IV_i% < 5%$), sinh trưởng hạn chế trong các khe hốc núi đá vôi chua. Công trình là cơ sở khoa học và thực tiễn để cơ quan quản lý lâm nghiệp địa phương triển khai các giải pháp cấp bách nhằm bảo tồn nguồn gen cây gỗ quý hiếm này.