CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VE NGHĨA VỤ CHUNG THUY CUA VO, CHONG VÀBIỆN PHAP BẢO DAM THỰC HIEN 11. Khái quát chung về nghia vụ chung thuỷ của vợ, chồng. Khái niệm nghĩa vụ của vợ, chong Ngiấa vụ theo nghĩa rông được hiểu là những việc bắt buộc phải làm. hoặc không được lam trong các môi quan hệ xã hội dựa trên các chuẩn mực đạo đức, các tin đồ tôn giáo, phong tục tập quán hay pháp luật.
Theo từ điển. tiếng Việt, nghĩa vụ vả bon phân phải làm đối với xã hội hoặc với người khác. Nghĩa vụ theo cách hiểu thông thường là những gì ma một người phải Jam hoặc không được lam đối với người khác. Theo cach hiểu nay, nghĩa vụ.
1ä mối liên hệ giữa hai hay nhiễu người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện những hành vi nhất định. Trong đời sống hing ngày, ngiĩa vụ là xử sự mà một người phải thực hiện vì một hoặc nhiều người khác. Tuy nhiên, sự thực hiện này không được đất dưới sự bão dam của nha nước bằng pháp luật Hay nói cách khác, pháp luật không bude người đó phải thực hiện, mà nghĩa vụ ở phương điện nay được điều chỉnh bởi các quy pham dao đức. 'Về mặt khoa học pháp lý, nghĩa vụ được hiểu là việc phải làm theo bổn.
phận của mình Đó la mỗi quan hệ phát sinh giữa một hay nhiễu chủ thể (gọi là người có nghĩa vu) phải làm một công vic, thực hiện một hành vi hoặc không được lâm một công việc, một hành vi vi lợi ích của một hoặc nhiều người khác” Như vậy, xét vé mặt pháp lý, nêu pháp luật quy đính trong các mỗi quan hệ pháp luật có những công việc phải lam hoặc không được làm thì 6 gọi là nghĩa vụ pháp luật. Nếu các méi quan hệ đó do pháp luật điều chỉnh thi đó gọi là nghĩa vu. Trong một quan hệ pháp luật bao gồm ba yếu tổ. chủ thể, khách thể, nội dung.
Nội dung quan hệ pháp luật bao gồm các quyên vả guitar Ý (1998), Đại ừ đến ống iuN33 Vấn hoi thông th, Ha NGIx. 1196 ‘Vin Khoa học pip Ý - Bộ Tự pháp, TỪ adn ud hoe NB Tephip — NOGB Từ đến Bích ha, Hi Nội, 560 ụ nghĩa vụ pháp lý. Đó là những hành vi mã một bên chủ thể phải thực hiện vì lợi ích của bên kia như thực hiện một công việc hoặc được thực hiện một công việc đã được thỏa thuân bởi các bên chủ thể hoặc do pháp luật quy định. Cũng có thể hiểu, nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật trong đó quyền dân sự và.
nghĩa vụ dân sự của các bén chủ thể phát sinh từ quan hệ đó phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo quy định cia Bộ luật Dân sự năm 2015, ngiĩa vụ được sắc đính là “việc mà theo đó, một hoặc nhiều ch thé (sau đây got chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyễn giao vật, cimyễn giao quyén, trả tiền hoặc giấy tờ có giá. thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất đinh vi lợi ich của một hoặc nhiều cũ thé Rhác (sm đập gọi chung là bên cỏ quyễn)". Nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật dân sự bao gồm những hảnh vi ma một chủ thể, một bên phải thực hiện vi lợi ich của chủ thể bên kia như chuyển giao một tải sản, phải thực hiện một công viếc hoặc không được thực hiện một công việc đã được xác định.
Trong mỗi quan hệ với người có quyền, người có nghĩa vụ phải gánh chíu, thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định. theo théa thuân của các bên hoặc do pháp luất quy đính để thöa mãn quyển, lợi ich hợp pháp của người có quyên. Trong quan hệ hôn nhân gia dinh, vợ chẳng sẽ chiu sự điều chỉnh của pháp luật khi thực hiện việc chiêm hữu, sử dụng va định đoạt tài sẵn trước và trong thời kỳ hôn nhân, sự tham gia cia vo chẳng trong các giao dịch ở các Tĩnh vực như dân sự, kinh tế, thương mai, tài chính, ngân hang. Dựa vào quy.
định trên của BLDS, có thể rút ra một khái niệm vé nghĩa vụ của vợ chồng như sau: Nghia vụ của vợ chồng là việc mà theo guy định của pháp luật thì một bên hoặc cả hai bên vợ chéng (người có nghita vu) phải làm hoặc Không được làm một công việc, hàmh vì nhất đinh vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ: thé khác 11. Khai niệm và đặc điểm của nghĩa vụ chung thuỷ của vợ chẳng. Khái niệm ‘Khai niệm chung thuỷ là khái niệm rộng. Trong từ điển tiếng Việt, chung.
thuỷ lả vẫn một lòng trước sau như một, vẫn có tinh cảm gắn bó không thay đổi. Trong quan hệ vợ chồng thì clung thay được liễu là vợ chồng phải luôn chung tinh, gắn bỏ tỉnh cảm yêu thương chỉ với nhan mà thôi. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, những quan niệm vẻ sự chung thuỷ của vợ chẳng cũng có sự khác nhau cơ bản. Trong thời kỳ nguyên thuỷ của zã hội loài người khi con.
người vừa thoát thai từ loài vất, chưa có quan hệ HN&GĐ. Quan hệ giữa người din ông vả người dan bê được gọi là quan hệ tinh giao, mang tính chất bay dan va bừa bãi. Có nghĩa mọi người din bả thuộc về moi người đán ông và ngược lại, điểu này được coi là phù hợp với tập quán lúc bay giờ. Thực tế lúc bay gi, do điều kiện tự nhiên quyết định nên con người phải chấp nhân.
cuộc sống an & chung, chung cha vo chồng va như Ph Angghen đã viết “ĐÁ: là hình thắc quần hôn, một hình thức hôn nhân trong đó cả từng nhóm ain ông và cả từng nhóm din bà đều là số hữu của nhau. Trong đó ghen hiông khó lòng phát tién’ Dan dẫn do xã hội phát triển, các hình thải hôn nhân gia đính cũng xuất hiện như tổn tại chế đồ quản hôn, hôn nhân đổi ngẫu, hôn nhân một vợ một chẳng. Từ hôn nhân đối ngẫu đến gia dink một vợ một chồng cỗ điển, khái niệm chung thuỷ đã bắt đầu được hình thành nhưng chỉ vẻ phía người phụ nữ. “Ho mong nhắn ngày càng nông nhiệt dat được quyền giữ trình tiết, kết hôn nhất thời hay lâu đài chi với mét người đần ông và cot a là sự giải phóng, Bước tiễn đô không thé nào lại do đâm ông mà có cả, chỉ vì đến tân ngày nay không bao giờ đàn ông có ý muỗn từ bỗ cái thút vui của: chế độ quân hôn thực sự cả.
Trong giai đoạn này, một người đàm ông sống chung với một người đàn ba song việc cỏ nhiều vo và việc không chung tình kit có dip vẫn ia quyền của người đàn ông. nhương thông thường thi phụ nie lại phải triệt để ciumg tinh trong thời gian ciumg sống với chông và tôi ngoat "`. 9 Tình cũa ho sé bi trừng trị một cách tầm ác. Hon nhân cặp đôi đã đưa vào gia dinh một yến tổ mới, bên canh người me dé, chế độ đó đã đặt người bố, người bé thật có lẽ còn thật hơn nhiều so với những người “bd” thời nay “*.
Sang gia đình một vợ một chồng cổ điển “để đấm báo sự trúng thành của người vo, do đó, bảo đâm việc con cái dich thật là do người cha dé ra người vo phải pine ting quyền lực tuyệt đối của người chẳng, nếu người chẳng có giết vợ @ chăng niữa thi cling chỉ là thực hành quyén cũa minh mà thot’ Nhu vay, trong giai đoan nay, sự chung thuỷ chỉ được đặt ra đối với người vợ và quan niềm này được duy tri khá lâu trong lịch sử phát triển của thời đại. Trong ã hội phong kiến Viết Nam, các quan hề HN&GD ảnh hưởng, nặng né tư tưởng Nho giáo. Nho giáo trở thảnh tư tưởng thống trị trong xã hội. Một trong những mỗi quan hệ cơ bản, quan trọng nhất trong zã hội là quan hệ phu phu (vợ chồng).
Pháp luật nhà Lê đã quy định những quyển va nghĩa vụ cơ ban của vợ chẳng như. Nghĩa vụ đồng cu, nghĩa vụ phù trợ, ngiãa vụ trung thảnh và nghĩa vụ tong phu. Nghĩa vụ chung thuỷ chỉ đất ra đối với người vơ vì người chồng có quyển đa thé Do đó, Bộ luật nhà Lê (Bộ luật Heng Đức) đã quy đính những hình phat năng né đối với tôi thông gian của người vo" Vo cả, vợ 1é pham tội đều xử tôi lưu, điền sẵn trả lại cho người chẳng" (Điểu 401). Người vợ có hảnh vi dâm đấng bị coi 1a phạm vào “that xuất" để người chẳng ly hôn.
Mat khác, theo tập quán lúc bây giờ thì những, người phu nữ không đoan chính bị kỷ thị va trừng tr rất tan ác. Trong thời kỹ Pháp thuộc, quan niệm chỉ người phụ nữ mới phải thực hiện nghĩa vụ chung thuỷ vẫn tổn tại va thể hiện rất rõ trong phong tục tập quán cũng như pháp luật. Điều nay thể hiện sự bắt binh đẳng giữa nam va nit, giữa vo và chẳng trong gia đính. 'Ở miễn Nam, trong thời ky đưới chế độ Việt Nam Công hoà thi quan niệm này đã được thay đổi.
Theo Luất gia đính năm 1950, Sắc luật năm 1964, + MŒc- Ph ngstị tip 6 Tad 39 Sc By Ph Ảgghơt n ip 6 Ta96 d 10 Bộ dân luật Sai Gòn năm 1972, nghĩa vụ chung thuỷ có tỉnh chất bắt buộc đổi với cả hai vợ chẳng: “Vợ chẳng phải lầy tình nghĩa thủy chung ma đối đãi với nhau", “Vợ chẳng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau”. Ch tai đặt ra đổi với hành vi vi pham ngiấa vụ này là rất chất chế nhằm ngăn ngừa và trừng phat các hành vi ngoại tình. Trong Luật đã quy định ché tải vé hình sự. “Chồng hay vợ cô quyền cẩm người hôn phối không được giao du một cách quả thân mật với người nào khác mà họ xét có hai cho sự chung thay vợ chỗng.
Nếu mặc dit cô sự cắm đoán đó, người chẳng hay người vo cing người tong phạm tiếp túc gấp gỡ nhau một minh một cách bắt chính tại nơi công công hay ning công công và néu sự viphar đó bị thừa phát lai hey viên chức hình cảnh theo yêu cầu của người hôn phối kia lập vi bằng kiểm chứng hat lần trong thot hạn một năm người vi pham và người tong phạm có thé bi phat tiền từ 1000 đến 50000 đẳng. Néu tái phạm thi có thé bị phạt giam từ một đốn sáu tháng ”Š Tuy nhiên, sự pham gian của người vợ hoặc người chẳng chỉ bị truy té khi có đơn kiện của người hôn phối kia. Người tong phạm van phải chịu chế tài. Ngoài ra, lỗi pham gian là căn cứ để người hôn phối kia yêu cầu.