Khóa luận tốt nghiệp Luật: tốt nghiệp luật học pháp luật về hoạt động cho

Khóa luận tốt nghiệp luật học pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và thực tiễn thi hành tại ngân hàn phục vụ n

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và vai trò của hoạt động cho vay ngân hàng thương mại

Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là một trong những hoạt động corebanking quan trọng nhất trong hệ thống tài chính. Đây là quá trình cung cấp vốn vay cho cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức khác, giúp hỗ trợ phát triển kinh tế và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Pháp luật về hoạt động cho vay quy định chi tiết các điều kiện, trình tự, thủ tục và quyền lợi của các bên tham gia. Vai trò của hoạt động này không chỉ giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn mà còn tạo ra cơ hội giúp ngân hàng tối đa hóa lợi nhuận thông qua lãi suất và các khoản phí dịch vụ.

1.1. Định nghĩa và phân loại hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay được định nghĩa là cung cấp tín dụng dưới các hình thức khác nhau như vay tiền mặt, cấp tín dụng, cho thuê tài chính và các công cụ tài chính khác. Dựa trên đối tượng vay, hoạt động cho vay được phân loại thành cho vay cá nhân, cho vay doanh nghiệp, cho vay ngoài nước và cho vay chứng chỉ tiền gửi.

1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại trong cho vay

Ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian tài chính, kết nối người gửi tiền và người vay. Chức năng chính bao gồm huy động vốn từ cộng đồng, cung cấp dịch vụ cho vay với lãi suất cạnh tranh, quản lý rủi ro tín dụng và tuân thủ pháp luật ngân hàng hiện hành.

II. Khung pháp lý về hoạt động cho vay tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi năm 2017) là luật cơ bản nhất, cùng với Luật Dân sự quy định về hợp đồng tín dụng. Pháp luật tín dụng ngân hàng cũng bao gồm các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Ngân hàng Nhà nước và các quy định nội bộ của từng ngân hàng. Các quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của cả người cho vay lẫn người vay, đảm bảo an toàn hoạt động tài chính và phòng chống rủi ro hệ thống.

2.1. Các văn bản pháp luật chính về cho vay

Các văn bản pháp luật chủ yếu bao gồm: Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Dân sự, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Cạnh tranh và các Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Những văn bản này tạo thành khung pháp lý toàn diện để điều chỉnh hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại.

2.2. Yêu cầu về trình tự và thủ tục cho vay

Pháp luật cho vay yêu cầu các ngân hàng phải tuân thủ trình tự cơ bản: tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra khả năng trả nợ, đánh giá tài sản bảo đảm, phê duyệt khoản vay, ký hợp đồng, giải ngân và theo dõi nợ. Mỗi bước phải tuân thủ quy định pháp luật và quy định nội bộ của ngân hàng.

III. Thực tiễn thi hành pháp luật tại Ngân hàng BIDV

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam với hoạt động cho vay phong phú. BIDV đã xây dựng hệ thống sản phẩm cho vay đa dạng nhằm phục vụ nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Thực tiễn thi hành pháp luật tại BIDV cho thấy ngân hàng này tuân thủ tương đối tốt các quy định pháp luật, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cần cải thiện. Kết quả hoạt động cho vay của BIDV qua các năm cho thấy tăng trưởng ổn định, góp phần quan trọng vào kết quả kinh doanh chung của ngân hàng.

3.1. Các dịch vụ và sản phẩm cho vay của BIDV

BIDV cung cấp các dịch vụ cho vay chính bao gồm: vay ngắn hạn cho vòng quay vốn, vay trung dài hạn cho đầu tư, vay tiêu dùng, vay để mua nhà, vay cho nông nghiệp và các sản phẩm tín dụng khác. Các sản phẩm này được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

3.2. Kết quả và hạn chế trong thi hành pháp luật

Kết quả thực tiễn cho thấy BIDV quản lý rủi ro tín dụng tương đối hiệu quả với nợ xấu ở mức chấp nhận được. Tuy nhiên, tồn tại những hạn chế như: quy trình cho vay chưa linh hoạt, yêu cầu tài sản bảo đảm quá cao, và thủ tục pháp lý chưa hoàn toàn minh bạch với khách hàng.

IV. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả cho vay

Để hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay, cần có những giải pháp đồng bộ từ cấp độ pháp luật quốc gia đến quy định nội bộ của ngân hàng. Một mặt, cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện các luật liên quan để tạo khung pháp lý rõ ràng, minh bạch và phù hợp với thực tiễn. Mặt khác, các ngân hàng thương mại cần nâng cao hiệu quả quản lý, đầu tư công nghệ, đào tạo nhân sự và cải tiến quy trình cho vay. Cần tập trung vào việc giảm chi phí cho vay, tăng tính tiếp cận tín dụng cho khách hàng nhỏ lẻ và nâng cao chất lượng dịch vụ.

4.1. Hướng hoàn thiện pháp luật quốc gia

Cần sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng để làm rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của ngân hàng và khách hàng. Bổ sung quy định về bảo vệ dữ liệu khách hàng, minh bạch trong công khai lãi suất, và cơ chế giải quyết tranh chấp tín dụng hiệu quả hơn.

4.2. Cải tiến quy trình cho vay tại BIDV

BIDV cần đơn giản hóa quy trình cho vay, rút ngắn thời gian phê duyệt, nâng cao đào tạo nhân viên về pháp luật tín dụng, và xây dựng hệ thống scoring tín dụng tiên tiến. Đồng thời, cần tăng cường tuân thủ pháp luật và nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động tài chính.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm về ngân hàng thương mại. Định nghĩa ngân hàng thương mại. Định nghĩa NHTM không phải là thuật ngữ gần đây mới hình thành mà đã trải qua quá trình hình thành và phát triển qua hàng thế kỷ và song song quá trình tiến bộ của nền kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế hàng hóa hay tài chính của những quốc gia trên thế giới, tại một số quốc gia cũng có cách định nghĩa NHTM theo cách riêng biệt, cụ thể: Đối với quốc gia Trung Quốc, được quy định rõ ràng trong Luật NHTM của CHND Trung Hoa cụ thể tại điều 2: “Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp pháp nhân được thành lập theo Luật này và luật doanh nghiệp của quốc gia, có chức năng huy động tiền gửi của cá nhân, doanh nghiệp, CV và thực hiện các giao dịch thanh toán và một số hoạt động khác”1.

Vậy có thể thấy NHTM ở Trung quốc phải được thành lập hợp pháp và là tổ chức thực hiện việc nhận tiền gửi CV và giao dịch thanh toán. Tại Việt Nam, việc định nghĩa NHTM được trình bày trong khoản 23 Điều 4 luật Các TCTD 2024: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”2. Nói chung, tuy các quốc gia cũng đã định nghĩa về thuật ngữ NHTM nhằm đúng tính chất hay phù hợp với đặc trưng kinh tế của riêng đất nước mình, nhưng có điểm chung có thể nhận thấy chính là NHTM là một chế định tài chính quan trọng trong hệ thống ngân hàng và quyết định sự cả nền kinh tế của các quốc gia. Song song với đó, vì được biết tới là trung gian tài chính và hoạt động để nhằm mục tiêu lợi nhuận, đặt biệt thông qua hoạt động CV khi NHTM sẽ vừa nhận tiền gửi của các chủ thể thừa về vốn và cung cấp hoạt động CV cho các cá nhân và tổ chức thiếu hụt về vốn.

Từ đó, NHTM cũng được hưởng lợi nhuận thông qua sự chênh lệch lãi suất giữa lãi suất CV và cả lãi suất về tiền gửi của khách hàng. Ngoài ra, NHTM cũng cung cấp các dịch vụ và thanh toán để giúp khách hàng thuận tiện trong các giao dịch. 1 Điều 2 Luật ngân hàng thương mại của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 2 Khoản 23 điều 4 Quốc hội, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật số 32/2024/QH15, ban hành ngày 18 tháng 01 năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội.

6 Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế trên thế giới, NHTM là công cụ giúp các quốc gia tăng trưởng vượt bậc về lợi nhuận và mang tính hội nhập quốc tế về mặt kinh tế. Việc NHTM hình thành và phát triển trong một quá trình lâu dài trong hệ thống tài chính cũng có các đặc điểm đặc trưng riêng biệt: Đầu tiên, NHTM hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận Để dễ định hình về NHTM nhất thì hoạt động đặc trưng cơ bản đó chính là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận trong lĩnh vực tiền tệ. Vì bản chất khi các chủ thể tham gia kinh doanh trong nền kinh tế thì hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận sẽ luôn được đặt lên hàng đầu, chủ thể kinh doanh muốn tồn tại và phát triển được trong nền kinh tế thì cần thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh. NHTM cũng không ngoại lệ điều đó, chỉ có điểm khác biệt một chút đó là NHTM sẽ là chủ thể kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mang tính đặc thù.

Thứ hai, NHTM có tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống ngân hàng và cung cấp nhiều dịch vụ trong HĐKD tài chính Trong quá trình phát triển của NHTM việc dần hoàn thiện và được biết tới là cung cấp nhiều nghiệp vụ như: Huy động vốn tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, và hoạt động CV phục vụ tiêu dùng, chi tiêu cá nhân và SXKD cho các tổ chức và doanh nghiệp. Do nhu cầu tích trữ tiền tệ của chủ thể thừa vốn và mong muốn đầu tư, và kinh doanh của các chủ thể hay tổ chức thiếu vốn nên NHTM là trung gian tài chính giải quyết tốt nhất về lĩnh vực tiền tệ như vậy. Nên đặc trưng trong việc cung cấp nhiều dịch vụ trong hoạt động tài chính là đặc trưng mà nhiều chủ thể tham gia trong nền kinh tế ấn tượng. Thứ ba, NHTM có khả năng tạo ra lượng tiền tệ có ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng trung ương Nhờ khả năng riêng biệt của NHTM trong sự sáng tạo và phát triển thêm các dịch vụ về thanh toán kèm theo hoạt động CV của khách hàng.

Cụ thể, không chỉ cấp nguồn tiền tệ cho khách hàng đang có nhu cầu về nguồn vốn, mà song song với đó nhằm giúp khách hàng thuận tiện hơn trong các giao dịch đặc biệt là các giao dịch liên quan tới mua sắm và thanh toán nên lúc này NHTM đã phát triển thêm các dịch vụ như: thẻ tín dụng, dịch vụ chuyển khoản, mobile banking,. để tạo ra thêm nguồn tiền tệ cho bản thân chính ngân hàng đó và 7 điều đó vô tình giúp tăng khối cung tiền tệ trong nền kinh tế, mang lại những ảnh hưởng tích cực đến chính sách tiền tệ của quốc gia. Thứ tư, NHTM cần sự tin tưởng của khách hàng và luôn giữ vững sự ổn định và liên kết chặt chẽ Là trung gian tài chính quan trọng và ảnh hưởng đến nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới, việc NHTM muốn tồn tại và giữ vững vị thế hàng đầu trong nền kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Thì việc được sự tin tưởng của khách hàng là điều tất yếu, vì khách hàng là cá nhân, tổ chức là nguồn huy động vốn tiền gửi lớn nhất cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mà hoạt động huy động vốn tiền gửi là hoạt động mang lại cho NHTM nhiều lợi nhuận nhất.

Vì thế, muốn thu hút nhiều khách hàng gửi nguồn vốn vào ngân hàng, thì NHTM cần đặt sự tin tưởng của khách hàng lên hàng đầu. Và hệ thống ngân hàng mang tính phụ thuộc lẫn nhau. Đôi khi, chỉ cần một NHTM thâm hụt về lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh thì có thể sẽ khiến cả hệ thống ngân hàng sẽ có nguy cơ sụp đổ. Chức năng của ngân hàng thương mại.

Đầu tiên, chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng sẽ trở thành chế định trung gian phân phối nguồn vốn khi tạo lập các quỹ dự trữ tiền tệ từ việc nhận tiền gửi của khách hàng dư thừa về vốn đã gửi tiền tệ vào NHTM, sau đó cung cấp các khoản vay cho các cá nhân và tổ chức đang có nhu cầu về nguồn vốn giúp khách hàng kịp thời đáp ứng nguồn vốn đang còn thiếu hụt. Lúc này, NHTM đúng nghĩa là người đi vay đồng thời là người CV giúp các chủ thể tham gia gửi tiền, vay tiền hay chính NHTM đều cùng hưởng lợi khi khách hàng gửi tiền vẫn sẽ có lãi từ nguồn tiền mà chính bản thân mình gửi vào, khách hàng vay tiền sẽ nhận được khoản vốn ngay lập tức để kịp thời phục vụ nhu cầu về nguồn vốn đang cần, và NHTM vừa phân phối được lượng tiền khổng lồ từ khách hàng đem tiền đến gửi mà còn thu lại được lợi nhuận từ việc tính lãi cho các khoản vay của khách hàng đi vay. Việc NHTM có chức năng trung gian tín dụng được coi là chức năng quan trọng nhất, vì chức năng này không chỉ giúp các bên tham gia vào hệ thống ngân hàng đều cùng hưởng lợi mà từ đó còn giúp phát triển của nền kinh tế. Thứ hai, chức năng trung gian thanh toán 8 Với định nghĩa là trung gian tài chính, NHTM có thể thực hiện chức năng thanh toán dựa trên nghiệp vụ của mình đã giúp khách hàng không chỉ thanh toán hay giao dịch một cách nhanh chóng, thuận tiện mà từ đó cũng đem lại nhiều giá trị tích cực cho khách hàng khi mọi người sẽ giảm bớt chi phí hay thời gian thực hiện các giao dịch hay thanh toán truyền thống như trước.

Cụ thể, NHTM có thể làm theo sự chỉ đạo của khách hàng có vốn tiền gửi đang gửi tại NHTM để thực hiện các hóa đơn mua sắm hay tiêu dùng cá nhân, thanh toán các dịch vụ tiện ích, hay là thực hiện lệnh mua bán giấy tờ có giá. Nên chức năng trung gian thanh toán vô cùng quan trọng để khách hàng nhận diện được rõ ràng về NHTM. Thứ ba, chức năng tạo tiền NHTM phản ánh bản chất hoạt động và phát triển thông qua chức năng tạo tiền, chức nằng này cần sự kết hợp hoàn hảo giữa hai chức năng trước đó chính là chức năng trung gian thanh toán và chức năng trung gian tín dụng, cụ thể NHTM sẽ tạo tiền thông qua các phương thức thanh toán như mở thẻ tín dụng cho khách hàng, thanh toán và các dịch vụ khác,.và là cơ sở để NHTM tạo ra thu nhập từ một bộ phận của lượng tiền giao dịch. Chính từ những phương thức thanh toán đó là động cơ để NHTM tạo ra tiền cho nền kinh tế.

Khi NHTM có chức năng tạo tiền này không chỉ đem tới khả năng gia tăng lợi nhuận cho các NHTM và cho cả hệ thống ngân hàng mà từ đó cũng giúp tăng trưởng tích cực về yêu cầu thanh toán đáp ứng việc chi trả cho xã hội hoạt động. Tóm lại, các chức năng của NHTM sau khi tìm hiểu và phân tích thì cho thấy rằng các chức năng này có sự liên kết chặt chẽ với nhau, đầu tiên chức năng trung gian tín dụng được coi là chức năng quan trọng nhất trong hệ thống NHTM khi đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng, NHTM, và cả nền kinh tế. Còn lại, chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền của NHTM giúp khách hàng thuận tiện thực hiện các giao dịch và tránh khỏi các rủi ro tài chính hay chi phí phát sinh không đáng có, còn đối với NHTM những chức năng này là nguồn lợi nhuận chính phục vụ nhu cầu luân chuyển tín dụng thông qua việc tăng cường lượng tiền tệ và đóng góp tốt cho nền kinh tế. Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế.

Tạo điều kiện tiếp cận dịch vụ tài chính NHTM là một chế định tham gia trực tiếp vào nền kinh tế, chuyên cung cấp các sản phẩm liên quan tới dịch vụ tài chính như: cho vay; bảo hiểm; thanh toán và đầu tư,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ