Chương I. Nguồn gốc chien lược của Mỹ với khu vực Trung Đông 1.1 Vị trí địa chính trị- địa chiến lược của Trung Đông Tir quá khứ đến nay, tên gọi Trung Đông vẫn được sử dụng như một khái niêm địa lý mang tính ước lệ, Điều này phụ thuộc vào phạm vi lãnh thé của khu vực qua từng thời kỳ. quan điểm tôn giao, địa chỉnh trị, địa chiến lược của từng nước hoặc theo quan điểm khác nhau của từng nhà nghiên cứu. Thời điểm xuất hiện khải niệm Trung Đông đến nay vẫn chưa có một tải liệu nao khang định một cách chắc chan va rõ rang.
Tuy nhiên, khái niệm nảy bat dau được biết đến phổ biển nhữ sử gia đẳng thời cũng là nha chiến lược quân sự Mỹ Alfred Thayer Mahan. Khi nghiên cứu về hoạt động tranh giảnh ảnh hưởng của Nga và Anh vào cuối thể ky XIX, ông gọi vùng bao quanh vịnh Ba Tư là Trung Đông va xem đây là cửa ngõ quan trọng nhất (chi sau kénh Suez) để ngăn chặn người Nga tiễn vào An Độ. Vịnh Ba Tư con là trọng tâm dé hoạch định vùng chiến lược của hải quân Mỹ. Nơi đây là một địa ban quan sự võ cùng quan trong của các ham đội Mỹ.
Trong chiến tranh thể giới thứ nhất, đạo quân viễn chỉnh Anh hoạt động ở Mesopotamia thường được gọi là * Lực lượng Trung Đông” đẻ phan biệt với “Lye lượng Cận Đông” cũng của Anh có căn cứ nằm trong lãnh thé Ai Cập. Sau chiến tranh, hai bộ chỉ huy được kết hợp lại dưới tên gọi chung là “B6 chỉ huy Trung Đông”. Trang quãng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thể giới. người ta vẫn để cập đến những vùng vây quanh Tho Nhĩ Kỳ và bờ Đông Địa Trung Hai bằng thuật ngữ Cận Đông - Near East-Proche Orient (bao gồm: Thỏ Nh¥ Kỳ, Syria, Lebanon, Jordan, Israel va Ai Cap và lãnh thô Mesopotamia của Irag, các lãnh thủ Bờ Tây va dải Gaza của người Palestine) dé doi chọi với thuật ngữ Vien Đông (Far East- Extreme Orient) lay Trung Quốc lam trung tâm.
Con Trung Đông là khu vực kéo dai từ Mesopotamia đến tận Miễn Điện, nghĩa là miễn năm giữa Cận Đông và Viễn Đông. Trong chiến tranh thé giới thứ hai, người Anh đã thành lap Trung tam Cung ứng Trung Đăng - Middle East Supply Center có pham vi hoạt động rat rộng. không chi trải dai tir xử 10 Trung Đông trong chiến lược toàn câu của Mỹ (1945-2009) GVHD: PGS.TS Ngõ Minh Oanh SVTH: Lé Hoài Thu Libya hiện nay đến tận Afghanistan, ma còn bao gồm ca Sudan, Erithrea, Ethiopia va Somalia, Kẻ tir thời điểm nảy, thuật ngữ Trung Đông không chỉ trở nên quen thuộc trong the giới Au-Mi, ma còn được người A Rap, người Do Thai, Tổ chức Liên Hiệp Quốc đang trong quả trình hình thành tiếp nhận. Năm 1946, Hội địa lý hoàng gia (Royal Geographical Society) của Anh loại Somalia ra khỏi thuật ngữ Trung Đông.
nhưng lại bo sung vùng Cyrenaica (thuộc nước Libya) va đảo Cyprus. Con Tap chi Trung Đăng thuộc Viện Trung Dong của Washington khong chi quan tam đến các xử được Hội dia lý hoàng gia chap nhận, ma con mở rộng phạm vi nghiên cửu đến các nước Bắc Phi, Pakistan và Afghanistan. Các tác giả người Pháp Pierre Birot và Jean Dresch để nghị bao gủm trong thuật ngữ Trung Đông tất cả các nước ven bờ Đông Địa Trung Hải (ngoại trừ bán đảo Balkans), Thỏ Nhĩ Kỷ, Iraq, các nước trên ban dao A Rap, Iran va Afghanistan. Còn bộ trưởng ngoại giao Hoa Ky Foster Dulles định nghĩa Trung Đông là “từng năm giữa và bao gom Libya ở phia tay và Pakistan ở phía đồng, Syria va iraq ở phía bắc và ban đảo A Rap ở phía nam, thêm Sudan và Ethiopia `, Có thé thay rằng, Trung Đông được xác định theo rất nhiều quan niệm khác nhau của từng quốc gia va thậm chi là từng cả nhân.
Trong bai khóa luận nay, khai niệm Trung Đông sẽ được sử dụng dé chỉ khu vực địa lý năm ở nơi tiếp giáp của ba chau: A, Au, Phi, các biến Địa Trung Hai va An D6 Dương. Việc phân chia các nước vào các nhóm khác nhau trong khu vực dya trên tiêu chí về sử dụng ngôn ngữ A Rap va ton giáo. Khi do, Trung Đông hao gom! các quốc gia sau: - Các nước Arập Hỏi giáo: xử Palestine, Ai Cap, Jordan’, Lebanon, Syria, Iraq, Saudi Arab. Kuwait, Bahrain, Qatar, Oman, Yemen, Các tiểu vương quốc Arap thông nhất ' Lê Phung Hoang, Lich sử quan hệ quốc tế ở Trung Đồng từ sau chiến tranh thé giới thứ hoi đến các hiệp định Osto (1945 - 1995), Giáo trình lưu hành nội hệ cua Khoa Lịch sử trường Đại hoc su pham Thanh phê Hỗ Chi Minh, 2009, trang 3.
* Tử ngày 24/5/1946, Transjordan được doi tên thành Jordan 11 Trung Đông trang chiến lược toản cầu của Mỹ (1945-2009) GVHD: PG5 T5 Ngõ Minh Oanh SVTH: Lễ Hoai Thu - Các nước không A Rap Hoi giao: Iran và Thỏ Nhĩ Ky - Israel. Trung Đông có một vị tri rat đặc biệt trên ban đỏ thể giới. Day là bản lẻ của châu A, châu Au và châu Phi, là nơi hòa nhập quanh biển Địa Trung Hải và là nơi tạo sự liên lạc giữa các vùng. các đại đương thông qua các eo biển và các hôn đảo chiến lược.
Nêu như tử ngây xa xưa, Trung Đông là nơi kết thúc con đường tơ lụa nồi tiếng nổi Trung Quốc với các quốc gia ven bờ Đông Địa Trung Hải thi từ sau thể kỷ XIX giả trị Trung Đông được tạo thành chủ yeu bởi ý nghĩa về mặt quân sự và kinh té. Kênh Suez thuộc khu vực là một trong những điểm qua lại thiết yêu trong số những đường hang hải quan trọng trên the giới, đặc biệt la từ Tay Bắc châu Âu sang An Độ Dương và Viễn Đông. Lộ trình này giúp rút ngăn 42% lộ trình đến Bombay, 32% lộ trình đến Singapore và 24% lộ trình đến Yokohama so với lộ trình đi qua mũi Hảo Vọng. Nhữ đó, số tau biên sử dụng kênh tăng lên không ngừng va số trọng tai đi qua kénh cũng không ngừng tăng lên: 436.609 tắn vào năm 1870 lên 19.495 tấn vào năm 1914 va 34.
Khi chiến tranh thé giới thir hai kết thúc, số trọng tải tiếp tục tăng lên: 96,880,000 lan vào năm 1954 và 241. Dau lửa là mặt hàng chiếm tỷ lệ cao trong tổng số hàng hóa được chở qua kênh với: 17% vào năm 1938 lên 30% vào nim 1947, 64% vàn năm 1949, 69% vao năm 1959 và 73% trước nim 1967. Đỏ là ý nghĩa vẻ mat kinh tế của kênh Suez. Bên cạnh dé, kênh đào nay côn mang ý nghĩa quan trọng vẻ mặt quân sự với vị trí là ngã ba đường của ha châu: A, Au va Phi.
Trong suốt chiều dai lịch sử 100 năm qua, kênh dao Suez và các căn cứ quân sự xung quanh đó đã được các nước phương Tay sử dụng như là công cụ dé bóc lột nhãn dan Ai Cap nói riéng và các nước ở khu vực nay noi chung. Vẻ dau mỏ. vao thời co dai, dau mỏ đã phun ra một cách tự nhiên trong nhiều vùng Trung Đông nhưng con người chưa biết cách khai thắc va sử dung. Tại Ba Tư có xưa, dẫu mỏ đã được dùng dé đốt các ngọn dén thờ trong các thánh đường ở Trung Đông.
Phải đến 12 Trung Bông trong chiến lược toan cau của Mỹ (1845 =2008) GVHD: PGS.TS Ngõ Minh Oanh SVTH: Lễ Hoai Thu thẻ kỷ XX, dau mỏ mới được khai thác có hệ thong trên quy mé lớn. Dau mỏ đã trở thành nguồn lợi làm giảu cho những nước biết tận dụng lợi thé nảy trong quan hệ với các nước khác nhưng day cũng chính là mam mong cho những mau thuẫn. xung đột nội hộ va sự can thiệp từ hẻn ngoài văn khu vực. Dau mỏ Trung Đông dễ khai thác, các giếng dầu không sau và lưu lượng thường rất cao, Ngay từ nam 1930, giá thành sản xuất một thùng dau tại Trung Đông chỉ có 30cents trong khi đó giả thành ở Mỹ là 1,8 đã la.
Ngày nay, mặc đủ dau mỏ đã được tìm kiểm va khai thác thêm trên khắp thé giới nhưng giá thành của Trung Đông vẫn ở mức rẻ so với các nước và khu vực khác: bằng 1/15 dau biển Bắc châu Âu, 1/10 dau Mỹ va 1/5 dau Nam Mỹ”, Trước năm 1970, việc khai thác dau mỏ ở các nước Trung Đông hau như nằm trong tay các công ty nước ngoai gỗm bảy công ty chủ yếu trong đỏ có năm công ty của Mỹ là: Gulf Oil, Mobil Oil, Standard Oil of Califarmia, Standard Oil of New Jersey và Texaco cùng hai công ty khác — một của Anh va một của Hà Lan. Bay công ty nắm độc quyền từ khai thắc, chế biển đến chuyên chở va ban ra thị trường. Sự độc quyên đó đã khiển cho cả các nước cung ứng lẫn nước tiểu thụ đều bị chèn ép. Trong quả trình đó, Mỹ là nước được hưởng lợi nhiều nhất.
Theo số liệu của thập niên 1980, trữ lượng của Trung Đông chiếm khoảng 60% thé giới với 50% trong số đó được xuất sang các nước phương Tây. Có the thay dau lửa là nguồn tai nguyễn thiên nhiên chien lược va quan trọng nhất của khu vực nay, Vi thể, Mỹ và rất nhiều các quốc gia phát triển với nhu cau năng lượng ngày càng bức thiết đã xem Trung Đông như một khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng của ho. Và day cũng chính là mam mong của hau hết các cuộc chiến tại khu vực này nhằm tranh giảnh lợi ích dau mỏ. Ngoài ra, ưu thể về quan sự khi làm chủ được khu vực nay đã biển khu vực thành nơi tranh giành anh hưởng của các cường quốc trong suốt chiều dai lịch sử.
3 TS, Nguyễn Tho Nhãn, 2008. Trung Đồng trong thé ky XX lịch sử, NXB Tổng hợp thành pho Ho Chi Minh, trang + 13 Trung Đông trong chiến lược toan cầu của Mỹ (1945-2009) GVHD: PGS.TS Ngé Minh Oanh SVTH: Lê Hoài Thu 1.2 Nguẫn gốc sự can thiệp của Mỹ Với vị thể địa chính trị - địa chiến lược quan trọng cùng nguồn tải nguyên dau mỏ không 16, Trung Đông đã trở thành nơi thu hút sự chủ ý của các nước thẳng trận sau chien tranh the giới thir hai. Bị suy yếu do hệ quả từ chien tranh the giới thử hai cộng với một số sai lâm tiêu biểu như trong Cuộc chiến Suez va việc Iran quốc hữu hóa ngành khai thắc dau khiến ảnh hưởng của Anh va Phap tại khu vực nay mau chong yeu đi.