mở đầu thời kỳ cai trị Âu Lạc. Dựa vào quyền uy của Triệu Đà, các Hán thương đã đi sâu vào nội địa Âu Lạc và bắt đầu khám pha ra những sản phẩm quý của vùng dat mới này. Cho đến khi Đại Việt giành độc lập, mặc dù biên giới quốc gia được kiểm soát chặt chẽ hơn trước, nhưng những dòng người nhập cư và buôn bán đường bộ vẫn tiếp tục diễn ra, tuy không dễ dàng như trước. Từ thế kỷ XII trở đi, tinh trạng giành dat, chiếm thành không còn diễn ra hỗn loạn như thời Tam Quốc, Ngũ Đại thập quốc, nhưng những cuộc chiến tranh giữa nội tộc va ngoại bang diễn ra dồn dập, mạnh mẽ và quyết liệt hon.
Người That lật đổ triều Tống (1127 — 1279), thiết lập triều đại Mông — Nguyên (1279 — 1368), rồi hơn 300 năm sau, người Mãn lật đỗ triều Minh (1368 — 1644) lập nên triều đại Man Thanh (1644 — 1911). Mỗi lần thay đổi triều đại là mỗi lần xô đẩy những dòng họ bắt hợp tác đã thất thé đi dan xuống phía Nam rồi di sâu vào lãnh thổ nước ta. Lịch sử đã ghi rõ những “vong than” của nhà Minh như Tran Thượng Xuyên, Dương Ngan Dich, đem 50 chiến thuyén và 3.000 binh sĩ cùng gia tộc. tùy tùng sang xin làm bẻ tôi chúa Nguyễn ở Dang Trong đã nói lên sự thật về sự dồn ép đó.
? Lê Dinh Sỹ (2002). Giao thoa hội nhập văn hóa và sức sống của văn hóa Việt Nam thời Bắc thuộc, Tạp chí nghiên cửu lịch sử, số 12, tr 31 SVTH: Phạm Minh Hải Trang 11 Luận văn tốt nghiệp - Tìm hiểu một số yếu tố phản ánh quan hệ của Việt Nam với Trung Hoa vê mặt kinh tế trong thé ky XIX. Sự phát kiến ra la bàn thời Tống và những tiến bộ về kỹ thuật tiếp đó đã cho phép người Trung Quốc tim thay ưu thé của con đường biến, đi đến vùng Nam Á và Đông Nam Á. Một khi con đường thương mại đã hình thành sẽ kích thich tâm lý làm giảu trong các tầng lớp di dân.
Con đường di của Mac Cửu cuối thé Ky XVII là một con đường điển hình về sự kết hợp di cư và hoạt động kinh tế. Con đường giao lưu kinh tế và tiếp biến văn hóa mà Mạc Cửu đã kiến tạo không có trong tiền lệ, nhưng quá trình và hội nhập văn hóa mà cha con Mạc Cửu đã tạo ra quả là một con đường độc đáo có một không hai trong lịch sử di dân từ Trung Hoa sang Việt Nam. Một tang lớp khác cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao lưu kinh tế, đó là thợ thủ công. Khi di cư vào nước ta, những người thợ thủ công mang theo những kinh nghiệm về sản xuat các nghề truyền thống như: Làm gạch ngói, đồ sứ, khai mỏ, làm giấy, bút, đệt lụa.
Lúc đầu những ngành này được giữ độc quyền sản xuất, nhưng về sau quá trình cộng cư đã tạo một sự chuyến giao về mặt kỹ thuật giữa những người thợ Trung Hoa và Việt Nam, đồng thời cũng tạo ra những sản phẩm thủ công mà trong đó chứa dựng cả hai yếu tế Hoa — Việt. Như vậy, ngay tir thời Bắc thuộc, song song với các cuộc chiến tranh xâm lược, các hoàng đế Trung Hoa đã tiến hành hàng loạt các cuộc “di dan” vào lãnh thổ nước ta. Từ trong quá trình đó, mối quan hệ về kinh tế giữa Việt Nam với Trung Hoa cũng dan được hình thành. Thông qua tiếp xúc với người Hán, nhân dân ta đã học tập được nhiều kỹ thuật sản xuất của Trung Hoa, tạo nên sự đa dạng, phong phú trong hoạt động sản xuất SVTH: Phạm Minh Hải Trang 12 Luận văn tốt nghiệp - Tìm hiéu một sé yếu tô phản ánh quan hệ của Việt Nam với Trung Hoa về mặt kinh tế trong thế kỷ XIX.
- Điều kiện tự nhiên của Việt Nam. Về vị trí địa lí: Việt Nam là một quốc gia nằm ở ria phía Đông của bán đảo Đông Dương, thuộc Đông Nam Á lục địa. Phia Bắc Việt Nam giáp với Trung Hoa, phía Tây giáp với Lào va Campuchia, phía Đông va Nam giáp với biển Đông (Thái Bình Dương). Lãnh thổ Việt Nam có đặc điểm hẹp về chiều ngang và có đường be biển chạy dài từ Bac tới Nam (dài 3.
Do đó, ngay từ thời cổ đại, ở Việt Nam đã hình thành các mối quan hệ về kinh té, chính trị, xã hội với các nước láng giềng, trong đó có nước Trung Hoa rộng lớn ở phia Bac. Việt Nam nằm trên những con đường biển quốc tế đi từ Án Độ Dương lên Bắc Thái Binh Dương, tử bán đảo Déng Dương đến các quan đảo của châu Đại Dương, một ngã tư đường biển trọng yếu. Đồng thời nước ta cũng nằm ở vị trí giữa hai nền văn minh lớn là Án Độ và Trung Hoa nên ngay từ rất sớm Việt Nam đã nắm giữ một vị trí chiến lược quan trọng trong hoạt động giao lưu kinh tế và văn hỏa. Nước ta có đường bờ biển dài, nhiều vùng vịnh kín gió, là những điều kiện thuận lợi để xây dựng các cảng biển cho tàu bẻ qua lại, neo đỗ, tiếp thêm lương thực, nước uống.
Mặc dù Việt Nam không phải là đích đến cuối củng trên con đưởng giao thương quốc tế, song các thương nhân Án Độ và phương Tây đến Trung Hoa và ngược lại cũng đều ghé đến Việt Nam như một trạm dừng. Ở đây, họ cũng tim thấy những nguồn lợi kinh tế lớn qua việc trao đổi buôn bán hàng hóa va sản vật. Vì vay, ngay từ rất sớm ở Việt Nam đã có sự giao thương, trao đổi hàng hóa với Các nước bên ngoài. Đặc biệt vùng dat liền Việt Nam giáp giới với Trung Hoa rat dài (1.400 km) trên toàn bộ vùng Tây Bắc - Bắc và Đông Bắc, có chung đường bờ bién dài là điều kiện thuận lợi để cư dân hai nước qua lại buôn SVTH: Phạm Minh Hải Trang 13 Luận văn tốt nghiệp - Tìm hiễu một sé yếu tố phản ánh quan hệ của Việt Nam với Trung Hoa về mặt kính tế trong thế kỷ XIX.
Từ đó, các tụ điểm buôn bán dọc theo biên giới của hai quốc gia được hình thành gọi là các bạc dịch trưởng như: Vĩnh Bình, Hoành Sơn và các hải cảng Phố Hiến, Hội An, Hà Tiên. Các địa điểm này diễn ra hoạt động buôn bán tắp nập của cư dân hai nước Việt Nam, Trung Hoa trong suốt tiến trình lịch sử lâu dải. Quá trình vận chuyến hàng hóa qua biên giới khá dé dang nên sự giao thương buôn bán giữa hai nước diễn ra tương đối thuận lợi. Nhờ có vị trí địa lý thuận lợi, "núi liền núi, sông liền sông", lại không bị ngăn cách bởi một nước trung gian nên đã tạo những cơ hội làm an buôn bán của thương nhân hai nước, góp phần phát triển kinh tế của mỗi dân tộc.
Về tài nguyên thiên nhiên: Việt Nam nằm trong vành đai nóng, quanh năm nhận được một lượng nhiệt rất lớn của mặt trời. Tổng số giờ nang trong năm tủy nơi giao động từ 1. Ngoài nhiệt ra, Việt Nam quanh năm cũng nhận được một lượng ẩm rat lớn. Độ Am dao động từ 80 đến 100% với lượng mưa đều đặn hàng năm là 1.
Dat nước trai dài giáp biển nên chịu ảnh hưởng rat lớn của chế độ gió mùa. Nhờ có lượng bức xạ mặt trời và độ 4m phong phú nên rừng ram rạp và có nhiều tang, cây cối quanh năm ra hoa kết quả, ruộng đồng mỗi năm làm được từ hai đến ba vụ. Ở Việt Nam còn có nguồn sản vật, rat phong phủ như giáng hương, tram hương, song mây, gỗ mun, gỗ lim, gỗ kiền kiền, hương liệu, ngà voi, sửng tê giác, nhân sâm, yến sào, mật ong, sáp ong, ngũ cốc, hải sản. Môi trường tự nhiên của Việt Nam thuận lợi phát triển nông nghiệp.
Khi hậu nhiệt đới 4m, gid mùa, mưa đều đặn với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chẳng chịt, đắt phủ sa màu mỡ là điều kiện sinh trưởng tốt cho * Lê Thông (chủ biên), (2006), Địa Lý lớp 12 - Sach giáo khoa thi diễm, Nxb Giáo Dục, tr31 SVTH: Phạm Minh Hải Trang 14 Luận văn tốt nghiệp - Tìm hiểu một số yếu tố phản ánh quan hệ của Việt Nam với Trung Hoa về mặt kinh tế trong thế ky XIX. cây lúa và nhiều lại cây trồng khác (có nhiều loại cây qui vả dược liệu quí): cau, hồ tiêu, mía, tram hương, ki nam hương. phục vụ cho đời sống và trao đổi hàng hóa trong và ngoài nước. Chính gió mùa đã đem lại cơ hội giao lưu, trao đổi hàng hóa cho người Việt Nam.
Những thương nhân từ Trung Hoa đến Án Độ, các nước phương Tây và ngược lại phải đón hướng gió để đi. Trong thời gian đợi hướng gió thay đổi để có thể quay ngược hành trình thì Đông Nam A trong đó có Việt Nam là một điểm dừng lí tưởng cho thương nhân các nước. Qua đó, hoạt động trao déi hàng hóa được diễn ra giữa người bản xứ và các thương nhân nước ngoài. Bên cạnh đó phải kể đến nguồn khoáng sản nước ta phong phú va đa dạng với nhiều chủng loại khác nhau.
Các nguồn khoáng sản chủ yếu có giả trị như: vàng, bạc, thiếc. đã được những người thợ thủ công người Hoa quan tâm và để mắt tới từ lâu, tuy nhiên từ cuối thời Lê trở đi, quá trình khai thắc các khoáng sản mới tiến hành với quy mô lớn. Các khoảng sản nước ta chủ yếu tập trung ở vùng trung du va miền núi phía Bac, nơi có địa hình hiểm trở, khó khai thác vận chuyển. Thiên nhiên ưu đãi và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thích hợp cho nền nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Việt Nam phát triển và khai thác các sản vật tự nhiên.
Một số nguồn sử liệu của Trung Hoa đã nhận xét rằng An Nam là nơi đô hội lớn, ruộng tết lúa, đất tốt dâu, núi chứa vang bạc, biển sinh châu ngọc. Chính nguồn sản vật, khoáng vật này là đối tượng thèm muốn, vơ vét của Trung Hoa, đồng thời là nguồn hàng hóa cho giao thương hai nước. tạo điều kiện dé trao đổi hàng hóa. SVTH: Phạm Minh Hải Trang 15 Luận văn tốt nghiệp - Tìm hiễu một só yếu tố phản ánh quan hệ của Việt Nam với Trung Hoa vê mặt kính tế trong thé ky XIX.
Chính sách của các triều đại phong kiến Việt Nam. Đối với các triều đại phong kiến Trung Hoa, nhà nước quân chủ Việt Nam luôn giữ vững đối sách ngoại giao hòa hiếu, tránh xung đột. Một mặt chúng ta giữ thải độ ngoại giao mềm dẻo, thân thiện, nhưng mặt khác cũng kiên quyết cứng rắn dé giữ vững nền độc lập tự chủ.