CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐỘNG HỌC CÁC QUÁ TRÌNH ĂN MÒN KIM LOẠI TRONG NƯỚC 1. Bản chất sự ăn mòn Ăn mòn kim loại trong môi trường nước là kết quả của phản ứng anốt oxi hóa kim loại cùng với một hay nhiều phản ứng catốt khử các chất oxi hóa của môi trường (hay gặp nhất là H*, H,O, O; hòa tan) xảy ra đồng thời trên 2 vùng khác nhau của cùng | kim loại: « Phan ứng anốt: Fe > FeÌ"+2e + Phan ứng catốt: Trong môi trường axít: 2H” +2e -> H, Trong môi trường nước gần trung tính: O,+2H,O+4e > 40H” Tốc độ ăn mòn của thép trong nước gần trung tính (nước máy,.) phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ phản ứng catốt khử oxi hòa tan (ăn mòn do sự khử H*, sự khử của nước có thể bỏ qua vì mật độ dòng giới hạn rất nhỏ ở nhiệt độ phòng, sự khử nước chỉ có tác dụng khi điện thế kim loại bị phân cực trở nên rất âm). Phản ứng khử oxi có 2 tính chất đặc trưng: mật độ dòng trao đổi nhỏ và tốc độ khuyếch tán oxi đến điện cực không nhanh, nên dễ bị khống chế khuyếch tán.
Vùng khống chế chuyển điện tích tương đối nhỏ và phụ thuộc quan hệ mật độ dòng trao đổi và mật độ dòng khuyếch tán. Trong thiên nhiên sự khử oxi được quyết định bởi nhiệt độ và tốc độ chảy của nước. Phương trình động học viết cho quá trình ăn mòn đơn giản nhất: Trên bể mặt kim loại có thể có vô số điểm anốt và catốt, mô hình tổng quát nhất là khái niệm về sự phân bố thống kê theo thời gian và theo vị trí trên Luận van tốt nghiệp khóa 2000 SVTH: Mai Thị Hải Hà bể mặt kim loại của phản ứng anốt và catốt. Mô hình này đã thành công trong giải thích hầu hết các dạng ăn mòn của kim loại.|2] Xét hệ ăn mòn có: a) Quá trình anốt bị khống chế chuyển điện tích M=—>M” +ne Mật độ dòng anốt: i, = ie E-E) B, S.nF RT M Nếu điện thế thay đổi, di i =p (1.1) Trở chuyển điện tích cho quá trình anốt: =.2) iog : là mật độ dòng trao đổi anốt E : điện thế phân cực E?, : điện thế cân bằng của phản ứng anốt B, : hệ số Tafel (độ dốc nhánh anốt V/decade) B :hằng số Tafel Các ký hiệu cho phản ứng catốt là tương tự, thay chữ ; bằng.
b) Khi quá trình catốt bị khống chế chuyển điện tích: Ox+ne —>› Red Mật độ dòng catốt: i, Ce me B.3) ti _(E-E?) _ __RT Vì quá trình bị khống chế chuyển điện tích nên có thể xem nồng độ bể mặt C, của chất oxi hóa là không đổi, vậy khi điện thế thay đổi, Luan van tdtnghiépkhda2000 _ SVTH: Mai Thị Hải Hà dE B. dE -—=R di, the ( 1.5 ) Mật độ dòng tổng của bề mặt bị ăn mòn (dòng mạng) là: i= ee s Ên „ S (1.6) dE dE dE R qJot Vậy khi 2 phản ứng anốt và catốt bị khống chế chuyển điện tích thì : I 1 1 =—+ R (1.7) R am Ras R Rag Rex wr là điện trở tổng cộng của hệ ăn mòn. Hệ sẽ đạt trạng thái ổn định ở điện thế điện cực đặc trưng gọi là điện thế ăn mòn Econ ( hay còn gọi là thế hỗn hợp, trong thực nghiệm đo người ta còn gọi là OCP tức thế mạch hở). Tại thế này tốc độ phản ứng anốt bằng tốc độ phản ứng catốt tại một điểm trên bể mặt kim loại: kí VU mề 1, \ đạn Từ (1.7) suy ra: Đây là phương trình chuẩn Stern-Geary dùng gần đúng cho các phép đo điện hóa.
Vậy phương trình Stern-Geary được xây dựng trên giả thiét:[5] + Phan ứng ăn mòn của hệ là thuận nghịch. - Cả phản ứng anốt và catốt đều bị khống chế chuyển điện tích + Bể mặt điện cực không thay đổi trong suốt quá trình phân cực. + Phan cực xảy ra do ăn mòn. + Hàng rào năng lượng cho bán phan ứng ăn mòn thuận và nghịch là đối xứng.
Luôn van tốt nghiệp khóa 2000 SVTH: Mai Thị Hỏi Hồ Những giả thiết này trong thực tế khó mà đạt được, nếu không muốn nói là không thể có được. Vì vậy giá trị tốc độ ăn mòn tính dựa trên phương trình này chỉ là ước đoán. b') Khi quá trình catốt bị khống chế khuyếch tán: Theo định luật Fick 1: C,: nồng độ chất oxi hóa trong dung dịch (mol/cm”) C,: nồng độ chất oxi hóa trên bé mặt điện cực.3) suy ra mật độ dòng catốt: i= uÍn tele, exp SED =) Yam B. Khi điện thé thay đổi, dE BL i, Tại điện thế ăn mòn,.
+2 ins be + bee. tee 1 Khi igor tiến đến im thì: R, 1n.9) R, là điện trở phân cực, R, lớn hơn Ry Ẻ 1 ais _. R, R, Bim Trong phép đo phân cực một chiéu ta chỉ thu được một giá tri điện trở duy nhất nên việc phân biệt 2 điện trở này là không cần thiết và người ta cũng sử dụng phương trình (1.8) cho hầu hết các trường hợp. * Lưu ý: Khi so sánh tốc độ ăn mòn giữa các kim loại cần kết hợp cả:{3] Tính chất nhiệt động: điện thế cân bằng của phản ứng và Luôn van tét nghiệp khóc 2000 SVTH: Mai Thị Hỏi Ha Tính chất động học: các thông số động học như mật độ dòng trao đổi i, , hệ số chuyển điện tích œ 1.
Hệ ăn mòn trong thực tế: * Bể mặt kim loại trên thực tế không bao giờ đồng nhất (kim loại được sử dụng dưới dạng hợp kim là chủ yếu). Trên bể mặt hợp kim tổn tại các pha có tính chất điện hóa khác nhau, diéu đó có nghĩa là tổn tai vô số các vi pin, trong đó những vị trí có điện thế âm hơn sẽ là anốt, điện thế dương hơn là catốt. Do vậy kim loại sẽ bị ăn mòn cục bộ ( bao gồm ăn mòn lỗ, ăn mòn khe,. Tuy nhiên bể mặt kim loại có thể xem như một bể mặt đẳng thế trong dung dịch dẫn điện tốt, ngược lại cần tính đến độ giảm thế trên bể mặt phân chia pha.
* Ăn mòn thực tế phụ thuộc rất nhiều yếu tố: tốc độ chảy của nước, nhiệt độ của hệ, sự tiếp xúc giữa những kim loại khác nhau trong hệ, néng độ oxi hòa tan, lượng cacbon đioxít, pH, và độ cứng, các ion khác trong nước như Cl’, SO}, Fe**, Mg?*,. các thành phần lơ lửng trong nước (đất sét, cát, phù sa, sinh khối.), áp suất (ảnh hưởng lên độ hòa tan của khí) và nhiệt độ. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN HOÁ 1. Giới thiệu chung về phương pháp điện hóa: 1.
Nguyên tắc của phương pháp điện hóa: Không có dòng điện ngoài chạy đến và đi từ điện cực làm việc (kim loại khảo sát) khi nó ở thế mạch hở OCP, dù điện cực vẫn đang bị ăn mòn và có dòng ăn mòn iggy. Vì thế cần áp một điện thế ngoài lên điện cực làm điện thế của nó thay đổi khỏi giá trị OCP và xuất hiện dòng điện có thể đo được. Từ điện thế ngoài này và dòng tương ứng đo được có thể dựa vào phương trình (1.9) để xác định độ lớn của dong ăn mòn thực sự igor Vậy phổ điện thế và dòng tương ứng có thể được sử dụng để: Luôn van tốt nghiệp khóa 2000 SVTH: Mai Thị Hỏi Ho + Xác định tốc độ ăn mòn, thay cho phương pháp cổ điển như tổn thất trọng lượng. « Nghiên cứu cơ chế phan ứng ăn mòn.
Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp: Các phương pháp điện hóa được xem là các phương pháp “gia tốc” để xác định ăn mòn: gia tốc chính quá trình ăn mòn và gia tốc phép đo [3](do nó rất nhạy với ăn mòn). * Thuận lợi để xác định tốc độ ăn mòn của các vật liệu bển ăn mòn hay xác định được các tốc độ ăn mòn rất nhỏ trong thời gian ngắn ( tuy nhiên các thời gian thử nghiệm cũng cần dài để thu được thông tin về ăn mòn như là hàm số của thời gian) * Trạng thái tự nhiên của một hệ ăn mòn là trạng thái không có dòng điện. Để đo tốc độ ăn mòn thường phải đưa hệ ra khỏi trạng thái tự nhiên của nó rồi ngoại suy trở về trạng thái không có dòng điện. Nhược điểm của cách làm này là các quá trình ở trạng thái được phân cực thường không giống như ở trạng thái không điện nên việc ngoại suy có thể không cho kết quả đúng.
* Các phương pháp điện hóa thường dùng các mối quan hệ tương đối đơn giản giữa các giá trị đo được (i, E, điện trở phân cực) với giá trị muốn biết (mối quan hệ đơn giản đó được xây dựng dựa trên giả thuyết ăn mòn đều chỉ với sự khử của hydro hoặc oxi và sự oxi hóa kim loại). Các mối quan hệ đơn giản này không phải bao giờ cũng đúng cho mọi trường hợp thực tế cho nên cẩn có sự hiểu biết tinh tường về nhiệt động học, đặc biệt là động học các quá trình điện cực để xem xét tính tin cậy của số liệu. Vị trí của phương pháp điện hóa trong nghiên cứu ăn mòn: Phương pháp điện hóa có thể cho những kết quả tốt trong thời gian ngắn đối với những hệ đã biết và có ý nghĩa nhất cho việc: « So sánh giữa các vật liệu. Luộn van tốt nghiệp khóa 2000 SVTH: Mai Thị Hỏi Hò + Nghiên cứu về cơ chế.
Trong thực tế thường người ta chỉ dùng các phương pháp đơn giản nhất trước tiên để đo tốc độ và càng ngày càng được dùng để nghiên cứu về cơ chế. Đối với những hệ chưa biết, hoặc các hệ phức tạp thì nên dùng phương pháp điện hóa kết hợp với các phép đo định tính, định lượng khác ( ví dụ như khảo sát thành phần bể mặt, pH của dung dịch chất điện ly,. Một số phương pháp phân cực một chiều (phương pháp DC) 1.1 Tổng quát về các phương pháp phân cực DC: * Phương pháp phân cực tuyến tính: sử dụng phổ điện thế phân cực nhỏ nhất: -20 mV đến +20 mV so với OCP. Đồ thị rị =lg() thu được là một đoạn thẳng.
* Phương pháp Tafel: phổ điện thế phân cực bắt đầu từ -250 mV đến +250 mV so với OCP. Đồ thị Tafel có 2 nhánh anốt và catốt tương ứng với bán phản ứng oxi hoá kim loại và bán phản ứng khử chất oxi hóa. * Phương pháp quét thế động (PDS): phổ điện thế bắt đầu từ -250 mV đến +1000 mV so với OCP. Nhánh anốt (ứng với điện thế dương hơn OCP) thường không thẳng và trong một số trường hợp có dạng chữ S.