Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, sở hữu thảm thực vật phong phú và đa dạng. Từ lâu đời, nhiều loài thực vật đã được sử dụng trong y học dân gian để phòng và chữa bệnh. Trong xu hướng phát triển của hóa học các hợp chất tự nhiên hiện đại, việc nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của thảo dược không chỉ làm sáng tỏ cơ sở khoa học của tri thức bản địa mà còn cung cấp các tiền chất quan trọng phục vụ ngành tổng hợp hữu cơ, dược học và y học.

Họ Chùm gửi (Loranthaceae) là nhóm thực vật sống ký sinh hoặc bán ký sinh trên thân của nhiều loài cây chủ khác nhau. Đặc tính hóa thực vật và tác dụng trị liệu của chùm gửi chịu sự chi phối chặt chẽ từ loài cây chủ mà nó bám sống. Trên thế giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu về chi Dendrophthoe cho thấy sự hiện diện của nhiều nhóm hoạt chất có giá trị sinh học cao. Nhằm đóng góp dữ liệu khoa học về cây bán ký sinh tại Việt Nam, đề tài được triển khai từ cuối năm 2008, tập trung vào việc nghiên cứu thành phần hóa học trên cao clorofom của cây Mộc ký ngũ hùng (Dendrophthoe pentandra (L.) Miq) sống ký sinh trên cây Xoài (Mangifera indica L.).

Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của khóa luận bao gồm:

  1. Thu hái, xử lý mẫu thực vật và điều chế các phân đoạn cao chiết từ toàn phần cây Mộc ký ngũ hùng ký sinh trên cây Xoài.
  2. Ứng dụng các kỹ thuật sắc ký để phân tách, cô lập các hợp chất hữu cơ tinh khiết từ phân đoạn cao clorofom.
  3. Sử dụng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại (phổ hồng ngoại FT-IR, phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D NMR) kết hợp đối chiếu tài liệu tham khảo để xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn thân cây Mộc ký ngũ hùng (Dendrophthoe pentandra (L.) Miq, tên đồng nghĩa Loranthus pentandrus L., thuộc họ Chùm gửi Loranthaceae) sống ký sinh trên cây Xoài (Mangifera indica L., thuộc họ Đào lộn hột Anacardiaceae).
  • Phạm vi không gian: Mẫu thực vật được thu hái tại vườn nhà thuộc xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Mẫu được định danh thực vật bởi Tiến sĩ Phạm Văn Ngọt, Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Mẫu nguyên liệu được thu hái vào tháng 7 năm 2009.
  • Phạm vi thực nghiệm: Khóa luận tập trung khảo sát thành phần hóa học của phân đoạn cao chiết clorofom.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và đối tượng hóa thực vật

Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết về hóa thực vật học và hóa học các hợp chất tự nhiên, tập trung vào các nhóm chất chuyển hóa thứ cấp ở thực vật ký sinh như este của axit béo, alkanol chuỗi dài, dẫn xuất steroid và các dẫn xuất quinone. Đồng thời, khóa luận kế thừa các dữ liệu tổng quan về thực vật học, dược tính và hóa thực vật của chi Dendrophthoe và cây chủ Mangifera indica.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Quá trình thực nghiệm được tiến hành thông qua chuỗi phương pháp hóa lý tiêu chuẩn:

  • Phương pháp chiết xuất: Chiết ngâm dầm bột thực vật khô trong cồn tuyệt đối (etanol) ở nhiệt độ phòng, sau đó cô quay thu hồi dung môi dưới áp suất giảm bằng máy cô quay chân không Heidolph Laborota 4001 để thu cao etanol thô.
  • Phương pháp chiết phân bố lỏng - lỏng: Hòa tan cao thô trong hệ dung môi clorofom : nước (tỷ lệ 1:1 thể tích) để tách thành phân đoạn cao clorofom và cao nước.
  • Phương pháp sắc ký cột cổ điển (SKC): Sử dụng chất hấp phụ pha tĩnh là Scharlau Silica gel 60 (kích thước hạt 0,04–0,06 mm). Pha động giải ly là các hệ đơn dung môi và hỗn hợp dung môi có độ phân cực tăng dần: ete dầu hỏa (Ed), clorofom (C), etyl axetat (Ea), metanol (Me), và hệ phối hợp Ed : Ea (tỷ lệ biến thiên từ 97:3 đến 75:25).
  • Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC): Sử dụng bản mỏng tráng sẵn TLC Silica gel 60 $F_{254}$ của Merck để kiểm tra các phân đoạn sắc ký cột, xác định hệ số trễ $R_f$. Thuốc thử hiện hình là dung dịch axit sunfuric ($H_2SO_4$) 25% trong nước, kết hợp gia nhiệt bản mỏng.
  • Kỹ thuật tinh chế: Sử dụng phương pháp kết tinh lại phân đoạn trong các dung môi metanol, clorofom và clorofom đơ-tơ-ri ($CDCl_3$).
  • Phương pháp xác định cấu trúc hóa học:
    • Đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton ($^1H\text{-NMR}$) ở tần số 500 MHz và phổ carbon-13 ($^{13}C\text{-NMR}$, DEPT) ở tần số 125 MHz.
    • Đo các phổ tương quan hai chiều (2D-NMR) bao gồm phổ COSY ($^1H\text{-}^1H$), HSQC ($^1H\text{-}^{13}C$ trực tiếp) và HMBC ($^1H\text{-}^{13}C$ tương quan tầm xa). Toàn bộ phổ NMR được ghi trên thiết bị Bruker Avance 500 tại Phòng NMR, Viện Hóa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội). Dung môi đo phổ là $CDCl_3$ hoặc hỗn hợp $CDCl_3 + CD_3OD$.
    • Đo phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR) để nhận diện các nhóm chức đặc trưng.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm

Nguồn dữ liệu thực nghiệm sơ cấp được thu thập từ quá trình xử lý 5,0 kg bột khô toàn thân cây Mộc ký ngũ hùng. Dữ liệu thứ cấp bao gồm phổ chuẩn và số liệu dịch chuyển hóa học được trích xuất từ các cơ sở dữ liệu quốc tế như Aldrich Library of $^{13}C$ and $^1H$ FT-NMR Spectra, tạp chí Phytochemistry và các công bố khoa học chuyên ngành.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến cây ký sinh Mộc ký ngũ hùng và cây chủ Xoài:

  • Cây Mộc ký ngũ hùng (Dendrophthoe pentandra): Mô tả đặc tính thực vật học (cây bán ký sinh, nhánh to hình trụ xù xì, lá mọc so le hoặc gần đối dày như da, hoa xếp thành bông đỏ, quả xoan cao đến 1 cm). Phân bố tại Ấn Độ, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và khắp các tỉnh từ Hà Tây đến Kiên Giang tại Việt Nam. Về dược tính, họ Chùm gửi từ xưa được dùng trị tai biến, đau đầu, phong thấp; lectin ML-I chiết xuất từ nước ép chùm gửi có khả năng kích hoạt hệ miễn dịch (tạo Interferon, Interleukin) và gây độc tế bào ung thư. Chế phẩm Đông y Tang ký sinh kết hợp điều trị thoái hóa khớp gối đạt hiệu quả 78,13%. Về hóa học, các nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận quercitrin và quercetin từ D. pentandra ký sinh trên cây khế (Averrhoa carambola); chi Dendrophthoe falcata ghi nhận các hợp chất như axit oleanolic, $\beta$-sitosterol, stigmasterol, catechin, gallic acid, ellagic acid.
  • Cây Xoài (Mangifera indica): Mô tả thực vật cây gỗ lớn 15–20 m, quả hạch chứa nhiều dinh dưỡng (FAO 1976: nước 86,5 g, glucid 15,9 g, vitamin A, C, canxi, photpho). Y học cổ truyền dùng các bộ phận quả, nhân hạt, lá, vỏ thân trị ho, tiêu chảy, kiết lỵ, bệnh đường hô hấp. Về hóa học, cây xoài chứa phong phú các hợp chất triterpenoid khung cycloartane, dammarane, lupane, flavonoid mangiferin (đặc biệt trong lá và vỏ thân chiếm đến 3%), isomangiferin và các dẫn xuất alkylresorcinol chuỗi dài.
Mộc ký ngũ hùng (Dendrophthoe pentandra) bán ký sinh trên Cây Xoài (Mangifera indica)

Chương 2: Nghiên cứu và kết quả

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình chiết tách, phân lập và lập luận cấu trúc hóa học của 4 hợp chất từ cao clorofom:

  1. Khảo sát nguyên liệu và điều chế cao: Từ 5 kg bột cây khô, chiết ngâm dầm etanol thu được 200 g cao thô. Chiết lỏng - lỏng thu 20 g cao clorofom. Sắc ký cột trên 3,64 g cao clorofom với hệ dung môi Ed : Ea (tỷ lệ 97:3 đến 75:25) thu được 7 phân đoạn ký hiệu từ C-1 đến C-7.
  2. Cô lập và biện luận cấu trúc hợp chất MX1:
    • Tính chất: Chất rắn dạng bột màu trắng (8 mg, kết tinh trong metanol), $R_f = 0,56$ (hệ Ed : Ea 6:4).
    • Dữ liệu phổ: Phổ $^1H\text{-NMR}$ và $^{13}C\text{-NMR}$/DEPT xuất hiện 3 tín hiệu carbon carbinol đặc trưng cho khung glycerol gồm một nhóm $-\text{CH}-\text{O}-$ ($\delta_C\ 70,9\text{ ppm} / \delta_H\ 3,88\text{ ppm}$) và hai nhóm $-\text{CH}_2-\text{O}-$ ($\delta_C\ 65,2\text{ ppm} / \delta_H\ 4,13\text{ và } 4,20\text{ ppm}$; $\delta_C\ 63,4\text{ ppm} / \delta_H\ 3,56\text{ và } 3,68\text{ ppm}$). Tín hiệu carbon carboxyl xuất hiện tại $\delta_C\ 173,12\text{ ppm}$ (C-1). Nhóm metyl duy nhất ở $\delta_C\ 14,12\text{ ppm}$, nhóm metylen $\alpha$ tại $\delta_C\ 34,18\text{ ppm}$ ($\delta_H\ 2,33\text{ ppm}$), nhóm metylen $\beta$ tại $\delta_C\ 32,04\text{ ppm}$ ($\delta_H\ 1,62\text{ ppm}$) cùng dải tín hiệu metylen chuỗi dài.
    • Tương quan HMBC: Tín hiệu giao giữa proton H-1' ($\delta_H\ 4,13\text{ ppm}$) với carbon carboxyl C-1 ($\delta_C\ 173,12\text{ ppm}$) khẳng định liên kết ester ở vị trí C-1' của glycerol. Tích phân proton tỷ lệ $2:1:1:1:2:2:54:3$ tương ứng với axit hentriacontanoic ($C_{31}$).
    • Kết luận: Hợp chất MX1 được xác định là monoester $2',3'\text{-dihydroxypropyl hentriacontanoate}$.
  3. Cô lập và biện luận cấu trúc hợp chất MX3:
    • Tính chất: Chất rắn kết tinh màu trắng (10 mg, từ phân đoạn C-5.2), $R_f = 0,52$ (hệ Ed : Ea 8:2).
    • Dữ liệu phổ: Phổ $^1H\text{-NMR}$ đơn giản với 4 vùng tín hiệu: proton carbinol bậc một $-\text{CH}_2-\text{OH}$ tại $\delta_H\ 3,64\text{ ppm}$ ($t, J = 6,5\text{ Hz}$), proton nhóm metyl cuối mạch $-\text{CH}3$ tại $\delta_H\ 0,88\text{ ppm}$ ($t, J = 7,0\text{ Hz}$), proton nhóm $-\text{CH}2-$ lân cận carbinol tại $\delta_H\ 1,61\text{ ppm}$ và khối proton metylen chuỗi dài tại $\delta_H\ 1,26\text{ ppm}$. Tích phân proton tương đối $1:8:46:3$ ứng với công thức $C{28}H{58}O$.
    • Kết luận: Hợp chất MX3 được xác định là $\text{octacosan-1-ol}$.
  4. Cô lập và biện luận cấu trúc hợp chất MX4:
    • Tính chất: Chất rắn dạng bột màu trắng hơi xanh (12 mg, từ phân đoạn C-7.2), $R_f = 0,74$ (hệ Ed : Ea 8:2).
    • Dữ liệu phổ: Phổ $^{13}C\text{-NMR}$ và DEPT cho 29 tín hiệu carbon, nổi bật với cặp tín hiệu carbonyl $>C=O$ ở vùng từ trường yếu tại $\delta_C\ 209,2\text{ ppm}$ và $\delta_C\ 211,5\text{ ppm}$. Có 6 nhóm metyl ($\delta_C\ 11,98\text{–}19,82\text{ ppm}$), tương ứng trên phổ proton với 2 mũi đơn ($\delta_H\ 0,96\text{ ppm}$ [H-19], $0,69\text{ ppm}$ [H-18]), 3 mũi đôi ($\delta_H\ 0,92\text{ ppm}$ [H-21], $0,84\text{ ppm}$ [H-27], $0,82\text{ ppm}$ [H-26]) và 1 mũi ba/đôi-đôi ($\delta_H\ 0,85\text{ ppm}$ [H-29]).
    • Kết luận: Khung cấu trúc steroid stigmastane dạng diketone, xác định là $\text{stigmastane-3,6-dione}$.
  5. Cô lập và biện luận cấu trúc hợp chất MX5:
    • Tính chất: Chất rắn dạng bột màu vàng (8 mg, từ phân đoạn C-7.2), $R_f = 0$ (hệ Ed : Ea 7:3).
    • Dữ liệu phổ: Phổ FT-IR có vân hấp thu mạnh của nhóm carbonyl tại $1720\text{ cm}^{-1}$. Phổ $^1H\text{-NMR}$ chỉ có 2 mũi đơn tại $\delta_H\ 5,85\text{ ppm}$ ($=\text{CH}-$) và $\delta_H\ 3,82\text{ ppm}$ ($-\text{OCH}_3$) với tỷ lệ tích phân $1:3$. Phổ $^{13}C\text{-NMR}$ chỉ có 4 tín hiệu carbon: 1 nhóm carbonyl olefin tại $\delta_C\ 180,0\text{ ppm}$, 2 carbon olefin tại $\delta_C\ 157,4\text{ ppm}$ và $107,4\text{ ppm}$, 1 carbon nhóm methoxy tại $\delta_C\ 56,5\text{ ppm}$. Cấu trúc có tính đối xứng cao.
    • Kết luận: Hợp chất MX5 được xác định là $2,5\text{-dimethoxycyclohexa-2,5-diene-1,4-dione}$ (tên thông thường: Thermophyllin).

Chương 3: Kết luận

Tóm lược kết quả đạt được trong việc cô lập và nhận danh 4 hợp chất từ cao clorofom của mẫu thực vật thu hái tại Đồng Nai. Nêu các định hướng nghiên cứu tiếp theo về hóa thực vật và hoạt tính sinh học trên các cao chiết còn lại.

Chương 4: Thực nghiệm

Chương 4 mô tả chi tiết hóa chất, độ tinh khiết của dung môi tinh chế (ete dầu hỏa, clorofom, metanol chưng cất khan qua $CaCl_2$), thiết bị đo đạc, quy trình ngâm chiết 5 kg mẫu và thông số các phân đoạn sắc ký cột từ C-1 đến C-7, C-5.1 đến C-5.4, C-7.1 đến C-7.4.


Kết quả và đóng góp

Kết quả phân lập thực nghiệm

Quá trình phân tách sắc ký cột và tinh chế trên phân đoạn cao clorofom (3,64 g) đã phân lập thành công 4 hợp chất hữu cơ tinh khiết.

Ký hiệu Tên hợp chất xác định Công thức / Khung cấu trúc Phân đoạn nguồn Khối lượng thu được Đặc điểm nhận dạng / $R_f$
MX1 $2',3'\text{-dihydroxypropyl hentriacontanoate}$ Monoester glycerol ($C_{34}H_{68}O_4$) C-4 8 mg Bột trắng, $R_f = 0,56$ (Ed : Ea 6:4)
MX3 $\text{octacosan-1-ol}$ Ancol béo bậc 1 ($C_{28}H_{58}O$) C-5 (C-5.2) 10 mg Rắn trắng, $R_f = 0,52$ (Ed : Ea 8:2)
MX4 $\text{stigmastane-3,6-dione}$ Steroid diketone ($C_{29}H_{48}O_2$) C-7 (C-7.2) 12 mg Bột trắng hơi xanh, $R_f = 0,74$ (Ed : Ea 8:2)
MX5 $2,5\text{-dimethoxycyclohexa-2,5-diene-1,4-dione}$ (Thermophyllin) Benzoquinone đối xứng ($C_8H_8O_4$) C-7 (C-7.2) 8 mg Bột vàng, $R_f = 0$ (Ed : Ea 7:3)

Đóng góp khoa học của đề tài

  • Là công trình thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam khảo sát thành phần hóa học của cây Mộc ký ngũ hùng (Dendrophthoe pentandra) ký sinh chuyên biệt trên cây Xoài (Mangifera indica).
  • Đã phân lập và xác lập đầy đủ số liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D ($^1H$, $^{13}C$, DEPT) và 2D (COSY, HSQC, HMBC) cho 4 hợp chất thuộc các nhóm cấu trúc khác nhau (este béo của glycerol, alkanol chuỗi dài, steroid và dẫn xuất quinone), đóng góp dữ liệu phổ tham khảo cho nghiên cứu hóa thực vật chi Dendrophthoe.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Hạn chế của nghiên cứu

  • Do điều kiện thiết bị thực nghiệm tại thời điểm thực hiện, nghiên cứu chưa tiến hành đo phổ khối lượng (MS hoặc GC-MS) để khẳng định tuyệt đối độ dài mạch carbon của hợp chất ester MX1 và hợp chất ancol MX3; độ dài mạch carbon được xác định tương đối qua cường độ tích phân proton trên phổ $^1H\text{-NMR}$.
  • Nghiên cứu mới chỉ tập trung trên phân đoạn cao chiết clorofom; các phân đoạn cao có độ phân cực khác gồm cao nước, cao ete dầu hỏa, cao etyl axetat và cao metanol chưa được tiến hành khảo sát sắc ký phân lập.
  • Chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học (in vitro hoặc in vivo) đối với các hợp chất đã cô lập được.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Tiếp tục khảo sát thành phần hóa học trên các phân đoạn cao chiết còn lại (cao ete dầu hỏa, cao etyl axetat, cao metanol và cao nước) của cây Mộc ký ngũ hùng ký sinh trên cây Xoài.
  • Triển khai thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn và hoạt tính gây độc tế bào ung thư đối với các hợp chất tinh khiết đã phân lập nhằm đánh giá tiềm năng dược lý của loài thực vật này.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa học các hợp chất tự nhiên, Dược học (chuyên ngành Hóa dược và Dược liệu học), cũng như các nhà nghiên cứu về tương tác sinh hóa giữa thực vật ký sinh và cây chủ.
  • Nội dung giá trị:
    • Cung cấp quy trình thực nghiệm chi tiết về chiết phân bố lỏng - lỏng, kỹ thuật sắc ký cột phân đoạn cao clorofom từ mẫu thực vật thực tế.
    • Cung cấp tài liệu quy chuẩn về phương pháp biện luận phổ 1D và 2D NMR cho các nhóm hợp chất este glycerol mạch dài, khung stigmastane diketone và các dẫn xuất quinone có tính đối xứng.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu thực vật Mộc ký ngũ hùng dùng trong nghiên cứu được thu hái ở đâu và định danh bởi ai?

Mẫu thực vật được thu hái tại vườn nhà thuộc xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai vào tháng 7 năm 2009. Tên khoa học của cây được định danh chính thức bởi Tiến sĩ Phạm Văn Ngọt thuộc Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là cây Mộc ký ngũ hùng (Dendrophthoe pentandra (L.) Miq), họ Chùm gửi (Loranthaceae).

2. Từ 5 kg nguyên liệu thô ban đầu, quy trình chiết xuất thu được bao nhiêu cao chiết các loại?

Quy trình ngâm dầm 5 kg bột cây khô trong etanol ở nhiệt độ phòng và cô quay thu hồi dung môi dưới áp suất giảm thu được 200 g cao etanol thô. Tiếp tục thực hiện chiết phân bố lỏng - lỏng trên 200 g cao thô này với hệ dung môi clorofom : nước (1:1) thu được 20 g cao clorofom.

3. Phương pháp nào đã được sử dụng để xác định độ dài mạch carbon của hợp chất MX1 và MX3?

Do không có điều kiện đo phổ khối lượng (MS hoặc GC-MS), tác giả đã xác định tương đối độ dài mạch carbon trong cấu trúc của MX1 và MX3 dựa vào tỷ lệ cường độ tích phân của các mũi tín hiệu proton trên phổ $^1H\text{-NMR}$ (500 MHz). Cụ thể, MX1 có tỷ lệ tích phân tương ứng với axit béo 31 carbon ($C_{31}$), còn MX3 có tỷ lệ tích phân proton tương ứng với chuỗi 28 carbon ($C_{28}$).

4. Vì sao hợp chất MX5 có cấu trúc phân tử chứa 8 carbon nhưng phổ 13C-NMR chỉ ghi nhận 4 tín hiệu?

Hợp chất MX5 ($2,5\text{-dimethoxycyclohexa-2,5-diene-1,4-dione}$) có cấu trúc đối xứng phân tử qua tâm. Do tính đối xứng cao, các nguyên tử carbon tương đương hóa học ở hai nửa phân tử cộng hưởng ở cùng độ dịch chuyển hóa học, dẫn đến phổ $^{13}C\text{-NMR}$ chỉ xuất hiện 4 tín hiệu đại diện: $\delta_C\ 180,0\text{ ppm}$ ($>C=O$), $157,4\text{ ppm}$ ($=C\text{-OCH}_3$), $107,4\text{ ppm}$ ($=CH-$) và $56,5\text{ ppm}$ ($-\text{OCH}_3$).

5. Khóa luận đã sử dụng thiết bị và cơ sở nào để đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)?

Tất cả các phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1H\text{-NMR}$ 500 MHz, $^{13}C\text{-NMR}$ 125 MHz và 2D-NMR) được đo trên máy quang phổ Bruker Avance 500 tại Phòng NMR, Viện Hóa học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, địa chỉ tại số 18 Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thắm đã hoàn thành việc khảo sát thành phần hóa học trên phân đoạn cao clorofom của cây Mộc ký ngũ hùng (Dendrophthoe pentandra (L.) Miq) sống ký sinh trên cây Xoài (Mangifera indica L.) thu hái tại Đồng Nai. Thông qua các kỹ thuật sắc ký cột và sắc ký lớp mỏng, nghiên cứu đã cô lập được 4 hợp chất hữu cơ tinh khiết ký hiệu MX1, MX3, MX4 và MX5. Bằng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại ($^1H\text{-NMR}$, $^{13}C\text{-NMR}$, DEPT, 2D-NMR và FT-IR), cấu trúc của 4 hợp chất đã được xác định lần lượt là $2',3'\text{-dihydroxypropyl hentriacontanoate}$, $\text{octacosan-1-ol}$, $\text{stigmastane-3,6-dione}$ và $2,5\text{-dimethoxycyclohexa-2,5-diene-1,4-dione}$. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về hóa thực vật và hoạt tính sinh học của các loài cây thuộc chi Dendrophthoe tại Việt Nam.