CHƯƠNG I: TONG QUAN Khóa Luận Tốt Nghiệp Chu Ngọc Mai _K35 106 026 1. TONG QUAN VE DUA DAI PANDANUS TECTORILS SOL. * Tên khoa học: Pandanus tectorius Sol. " Thuộc họ Pandanaceae.
* Tên gọi khác: Dita gai, dứa, dứa gd." * Tên nước ngoài: pandanus, screw pine (English); pandanus, vacouct(French); hala, pũ hala (Hawai‘i); béb (Marshall Islands); bốb (Marshall Islands); kafu (Guam); mweng (Kosrae); ongor (Palau); pandanas (Vanuatu: Bislama); choy, fach, far (Yap); deipw, fach, far (Chuuk); dcipw, kipar (Pohnpet) id 1. Đặc điểm thực vật cây dứa dai Cây nhỏ, phân nhánh ở ngọn, cao 3 — 4 m, với rất nhiều rễ phụ tha xuống đất. Lá mọc ở dau nhánh thành chùm, hình bản dai | - 2 m, gân giữa và mép có gai sắc. Bông mo đực thành bông tận cùng và rủ xuống với mo màu trắng, riêng biệt, hoa rất thơm.
Bông mo cái mọc đơn độc gồm rất nhiều lá noăn. Cụm hoa mang quả thành một khối hình trứng, dai 16 - 22 cm, có cuỗng, màu vàng cam, với những quả hạch có góc cạnh, phăng va thành bướu ở đính, hạch rất cứng, nhiều cạnh, có những hốc. Ra hoa quá vào mùa hé.O dita dai hau như có thé sử dụng tắt cả các bộ phận của nó từ rễ, lá đến hoa, quả i Page 1 Khóa Luận Tốt Nghiệp Chu Ngọc Mai_K35 106 026 1. Vùng phân bố, thu hái và chế biến * Vùng phân bố - Trên thé giới: phân bé ở các khu rừng và vùng ven biên ở Đông Nam A, bao gồm ca Việt Nam và Indonesia, mở rộng vẻ phía đông qua Papua New Guinea và miền bắc Australia, trên khắp các hòa đảo Thái Binh Dương, bao gém cả Mclancsia (Quản đảo Solomon, Vanuatu, New Caledonia và Fiji), Microncsia (Palau, Northern Marianas, Guam, Federated States of Micronesia, Quan daoMarshall, Kiribati, Tuvalu, Nauru), va Khóa Luận Tốt Nghiệp Chu Ngọc Mai_K35 106 026 Polynesia (Wallis và Futuna, Tokelau, Samoa, American Samoa, Tonga, Niue, Cook Islands, Polynesia thuộc Pháp và Hawaii).
- O Việt Nam: Dita dai thường phân bó trên các bãi am có cát, trong các bụi ven biển, dọc bờ ngòi nước mặn; rừng ngập mặn, cũng phân bế trong đất liền, ở vĩ độ thấp, đọc theo các sông, khắp nước ta, từ Hoà Bình, Quảng Ninh, tới Quảng Nam- Đà Nẵng, Khánh Hoà, Binh Thuận, Đồng Nai, Kiên Giang." * Thu hái và chế biến - Thời gian thu hái: Cây có nguồn gốc từ cây giống đầu tiên bắt đầu ra hoa vào khoảng 15 năm, trong khi các câycó nguôn gốc từ cắt cành giâm thường ra hoa vào 3-4 năm. Thời vụ ra hoa giữa các quốc gia/địa phương, giữa các giống khác nhau rất lớn. Cây đực thường ra hoa mỗi năm một lan (tháng ba - tháng năm). Cây cái cho hoa rất nhiều, ra hoa hai lần mỗi năm.
Sự thụ phan thường xảy ra vảo tháng ba, cho tới khi quả trưởng thành khoảng một năm sau đó. Ở miễn bắc Australia, mùa đậu quả chính là tháng tám. Ở Kiribati, Marshall Islands và Liên bang Micronesia, có hai mùa đậu quả chính, khoảng thang ba và sau đó vào tháng bảy - tháng chin.®! - Trên thế giới: các bộ phận khác nhau của cây dứa dai được sử dụng để cung cấp vô số các sản phẩm tại các quân đảo Thái Bình Dương, đặc biệt lả trên đảo san hô. Thân vả cành lớn thường được ding làm vật liệu xây đựng nha ở, gỗi cứng, bình, va bẫy cả; cũng có thê cho củi dé đốt hoặc sử dụng đẻ làm phân trộn.
Ré chưa bam đất được sử dung làm tường nhà, giỏ, cọ vẽ. Cây cũng được sử dụng dé sản xuất thuốc nhuộm và các loại thuốc truyền thống. Lá được chế biến bằng cách ngâm trong nước biển hoặc đun sôi, sau đó sử dụng để làm thảm, giỏ, nón, quạt, gối, thuyền buồm (trước đây), đề chơi. Lá cũng được sử dụng cho lợp tường và mái nhà, và đề làm phân trộn.
Hoa đực có mùi thơm được sử dung dé làm nước hoa, tinh dầu và làm vòng hoa. Trái đứa đại là lương thực chính ở các vùng của Micronesia bao gồm ca quan đảo Marshall, Liên bang Micronesia, và Khóa Luận Tốt Nghiệp Chu Ngọc Mai_K35 106 026 Kiribati cung cấp lên đến 50% lượng năng lượng (Miller et al. Năm 1956, Englberger et al. - Ở Việt Nam: Ré thu hải quanh năm, thu các rễ chưa bam dat tốt hon là rễ ở đưởi đất, đem vẻ thai mỏng, phơi hay sấy khô ding dần.
Thu hái quả vào mùa đông dùng tươi hay phơi khô. Dứa dai mọc hoang ở nhiều nơi; thường tròng làm hàng rào. Một số nơi tròng lấy lá dệt chiếu và túi; vì cây có hoa thơm, nên có người còn trồng làm cảnh trong sân nhà. Một số địa phương người ta dùng dot non dé ăn; phan trắng và mềm của cuống lá đôi khi cũng được dùng để ăn.
Ngoài quả, các bộ phận khác như nõn hoa, rễ đều cỏ thể sử dụng làm thuốc. Nhóm tác giả Phan Thị Thủy Hằng (Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng) và Hoàng Thị Lan Phương (Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã thực hiện thành công đề tài “Nghiên cứu tách và sử dụng sợi từ lá dứa dại dùng làm cốt gia cường cho vật liệu composite trên cơ sở nhựa polyester không no”, So với vật liệu polyme composite (PC) phô biến hiện nay (gia cường bằng sợi thủy tinh) thì vật liệu PC gia cường bằng sợi dứa đại có độ bền thấp hơn. Tuy nhiên sản phẩm đi từ PC gia cường sợi thiên nhiên nói chung, sợi đứa dại nói riêng lại có những ưu điểm như: giá thành hạ, ty trọng thắp (trong lượng thấp với cùng thể tích), có khả năng phân hủy sinh học, chủ động được nguồn nguyên liệu sẵn có, đổi dao trong thé giới thực vật, dé dàng gia công, không đòi hỏi kỹ thuật gia công phức tap hay chỉ phí đầu tư cao. Vật liệu PC tử sợi lá đứa dại có thé gia công chế tạo các sản phẩm dân dụng như: tắm tran, sản phẩm thủ công my nghệ, hộp công tơ điện, bàn ghế, tủ tường, thùng rác, thùng chứa nước, thùng chứa hóa chắt.
Công dụng của cây dứa đại 1. Theo y học cỗ truyền Sách thuốc đông y gọi tên là "lỗ có tử", còn có tên "sơn ba la" (đứa núi), "đã ba la" (dứa dại), "lộ đâu tử".!°1 Khóa Luận Tốt Nghiệp Chu Ngọc Mai_K35 106 026 Dứa dai được sử dung lam thuốc ở nhiều nơi: Ở Kiribati, lá được sử dụng trong phương pháp điều trị cho bệnh cúm, viêm gan, chứng khó tiểu , hen suyén, ung thư, và rễ được sử dụng dé diéu trị bệnh tri. Ở Hawaii các bộ phận được sử dụng làm thuốc truyền thong: trái cây, hoa đực, và rễ không bám đất (Meilleur et al. Chúng được sử dung riêng lẻ hoặc kết hợp với các thành phan khác dé diéu trị các bệnh, bao gồm tiêu hóa va rối loạn hô hap.
O Palau rễ được sử dụng dé làm một loại thức uống cỏ tác dụng giảm bớt đau bụng vả lá được sử dung dé giảm nôn mửa (Del Rosario và Esguerra 2003). Rể được dùng trong y học cô truyền ở Pohnpei (Adam et al 2003. Công dụng của từng bộ phận '*! > Hoa dứa dại: Theo đông y, hoa đứa dại có vị ngọt, tính lạnh. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trừ thấp nhiệt, cằm tiêu chảy do nhiệt độc.
Dùng chữa các chứng ho đo cảm mạo, san khí, đái dục, đái buốt, đái nhỏ giọt, tiểu tiện không thông, nhọt mọc ở sau gáy. Liều dùng: 10-30g sắc uống, dùng ngoai giã nát đắp. > Dot dita dại: Có vị ngọt, tính lạnh. Cỏ tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, chi huyết, sinh cơ, tan nhiệt độc.
Dùng chữa sỏi, ban chan, đơn độc, mụn nhot 16 loét, tâm phế nhiệt, tiểu tiện vàng đỏ; giã nát dap chữa đầu đinh, lòi dom, bó gãy xương. Liều dùng: 9-18g sắc uống, dùng ngoài giã nat đắp vết thương. > Quả dứa dại: Thường thu hoạch vào mùa thu, đem sắy hoặc phơi khô ding din, Theo đông y, qua dứa đại có vị ngọt, tính bình. Có tác dụng ích huyết, cường tâm, bỏ ty vị, tiêu đờm, phá tích trệ, giải độc rượu.
Thường ding chữa "san khí" (thoát vị ben hoặc thoát vị bìu, đau từ bìu lan lên bụng đưới), tiêu tiện khó khăn, tiểu đường, kiết ly, say nắng, mắt mờ. Liều ding: 10-15g, sắc nước, tâm rượu hoặc tâm mật uống. » Rể dita dại: Có thé thu hái quanh năm, rửa sạch, thái lát, phơi hoặc say khô dùng dan. Có người cho rằng dùng rễ non chưa bám đất thì tốt hơn.
Theo đông y, rễ dứa đại vị ngọt nhạt, tính mát, Có tác dụng làm ra mỏ hỏi, hạ sốt, lợi thủy, hóa thấp. Dùng chữa các Page 5 = Khóa Luận Tốt Nghiệp Chu Ngọc Mai_K35 106 026 eee chứng bệnh như cảm mạo, sốt dịch, viêm gan, viêm thận, viêm đường tiết niệu, phù thúng, đau mắt đó, thương tôn do bị nga, bị đánh chan thương. Một số bài thuốc có vị thuốc từ cây dứa đại '*"! * Hoa dứa đại: - Chữa ho do cảm mạo: Dùng hoa đứa dại 4-12g hoặc dùng quả 10-15g, sắc nước uống (Quảng Tây trung thảo được). * Dot dứa đại: - Chữa chân lở loét lâu ngày: Dùng đọt non đứa đại và đậu tương, hai thứ liều lượng bằng nhau, giã nat, đắp vào chỗ 16 loét; có tác dụng sát trùng và lành vét loét (Lĩnh nam thai được lục).
- Chữa các vết loét sâu gây thối xương: Dùng đọt non dửa đại giã đắp vào vết thương, có tác dụng hút mủ và lam lành vết loét (Linh nam thái được lục). - Chữa chứng người bằn chon, chân tay vật vã, phát nóng: Dùng đọt non đứa dại 30g, đậu đỏ nhỏ hạt (xích tiểu đậu) 30g, cỏ bắc đèn (đăng tâm thảo) 6g, búp tre 15 cái, sắc nước udng (Lục xuyên bản thảo). - Chữa phù thủng, đái rit, đái buốt, đái ra máu, đái ra sỏi: Dùng dot non đứa đại 15-20g sắc nước uống thay nước trong ngày (Kinh nghiệm đân gian ). k Quả đứa đại: - Chữa kiết ly: Dùng quà đứa dại 30-60g sắc nước uống (theo sáh Thường dụng trung thảo được thủ sách).
Pres —————— — Khóa Luận Tốt Nghiệp Chu Ngọc Mai_K35 106 026 - Chữa mắt sinh màng mộng, thị lực giảm dan, nhìn không rõ: Dùng quả đứa dai, thái nhỏ, ngâm trong mật ong, ăn dan trong ngảy; mỗi ngảy ăn | quả, dùng liên tục 1 tháng có thể khỏi bệnh (sách Cương mục thập di). - Chữa cảm nắng, say nắng: Dùng quả đứa dai 10-15g, sắc uống ( Lĩnh nam thái được lục ). - Chữa viêm gan siêu vi: Dùng qua dita dai 12g, điệp hạ châu (chó đẻ rang cưa) 8g, nhân tran 12g, tran bì 8g, hỏ trượng căn (cốt khí củ) 12g, ngũ vị tử 6g, cam thảo 4g, sắc với 1000ml, đun cạn còn 450ml, chia thành 3 lần uống lúc đói trong ngay (Hiện đại thực dụng phương tế).