Chương 1: Tổng quan 1.1 Cây Thông đỏ lá dài (Gọi tắt là Thông đỏ) 1. [30] Tên khoa học: Taxus wallichiana Zuce. (Tên đồng nghĩa: Taxus yunnanensis W. Tên nước ngoài: Himalayan yew (Anh), Xu mi hong dou shan (Trung Quốc).
Lén Việt Nam khác: Thông đỏ Hymalaya, Sam hạt do lá dài. Van Nam Hông đậu sam. Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc.) thuộc họ Thanh Tùng (7axaceae). Vị trí cây Thông đó trong hệ thống phân loại thực vật: ~ Gidi (Kingdom): Plantae.
+ Taxus (Thanh tang, Thông đỏ. Hồng đậu sam). ~ Loai (Species): * Chi Austrotaxus: Austrotaxus spicata. * Chi Pseudotaxus: Pseudotaxus chienii.
* Chi Taxus: Taxus baccata L. Taxus brevifolia Nutt. Taxus cuspidata Zuce. Taxus floridana (Thông đó Florida), Taxus globosa (Thông đó Mexico), Taxus hunnewelli, Taxus jortunet, Taxus sumatrana (Thông đỏ Sumatra), Taxus wallichiana Zucc.
(Thông đỏ Himalaya) * Chi Amentotaxus’ Amentotaxus argotaenia, Amentotaxus assamica Amentotaxus formosana, Amentotaxus poilanei, Amentoiaxus yunnanensis. * Chi Cephalotaxus Cephalotaxus fortunei, Cephalotaxus griffithii, Cephalotaxus hainanensis, Cephalotaxus harringtoma. Cephalotaxus koreana, Cephalotaxus lanceolata, Cephalotaxus latifolia, Cephalotaxus mannii, Cephalotaxus oliveri, Cephalotaxus sinensis, Cephalotaxus wilsoniana * Chi Torreya’ Torreya californica, Torreya fargesii, Torreya grandis, Torreya jackii, Torreya nucifera, Torreya taxifolia 1.1 Mô ta thực vật Thông đỏ là một loại cây thân gỗ, thường xanh, kích thước trung bình hoặc nhỏ, chậm lớn (cây sinh trưởng cả trăm năm chỉ có đường kính không quá 3Š em) Chiêu cao: 20-30 m; đường kính ngang ngực: 1-1,5 m Cây mọc đứng. Khóa luận tốt nghiệp Tẳng quan tài liệu Hình 1.2 Mẫu Thông đỏ lá dai (Taxus wallichiana 7ucc ) Cảnh: xóe rong, cảnh non mau lục, chuyển sang nâu sau 3 hoặc 4 năm, mọc phân tán tuy theo điều kiện môi trường Vỏ cây: phia ngoài mau nâu đỏ nhạt, hơi dày, bóc tách thành từng mang hay từng tâm nhỏ, thịt mau nâu đỏ.
Lá thường có mau xanh, dải 1,5-2,7 cm và rộng 2 mm, sắp xếp theo hình xoắn ốc, thường vặn xoắn tại gốc lá dé xuất hiện theo kiểu 2 hàng Các lá có dạng thẳng hay hình mũi mắc, mọc cách, thuôn thành đỉnh nhọn, gốc lả mọc xuống, mép lá phăng, mặt trên xanh vang, mặt đưới xanh nhạt với các dai lỗ khí xanh nhạt hơn ở hai bên gân giữa. Lá của các chôi chỉnh có thé mọc đựng lên hon là xếp day Nón: phân tính khác gốc Nón cái đơn độc, có một hạt và được bao quanh nhưng không bao kín băng lớp áo hat mau đỏ, chin trong | năm. Non đực tạo thành hàng ở nach lá. dai 6 mm vả rộng 3 mm.
nhưng không có cuỗng hoặc cuông rat nhỏ Hạt. hình trừng, dải 7 mm và rộng Š mm, mau đen khi chin, 1.2 Phân bố Thông đỏ phân bố hẹp, ở các dãy phía đông Hymalaya đến tây nam Trung Quốc (Yunnan, Sichuan, Likiang, Weihai và phía tay Huber) Ngoài ra, loa: này còn mọc ở vùng đông bắc An Độ, ven biên giới Myanmar va Tibet, Nepal, Bhutan, Dai <a Khóa luận tốt nghiệp Tông quan tài liệu cây cô thụ (Có cây ca ngan năm tuôi, đường kính thân từ 1.5-2 m) trên những sườn núi, bên khe sudi ở độ cao 1.500 m; còn lớp cây kế cận rất thưa ving. Ở Việt Nam, có hai loai Thông đỏ là Thông đỏ Trung Quốc Taxus chinensis (Pilger) Rehder thường gọi là “Théng đỏ lá ngăn" va Thông đỏ Hymalaya Taxus wallichiana Zucc., thường gọi la “Thong do lá dai”. Thông đó lá ngắn: phân bổ ở Trung Quốc, An Độ, Malaysia va Việt Nam.
Ở Việt Nam, cây phân bé rải rác ở ving núi thuộc các tính Lao Cai (Hoàng Liên Son), Hà Tây (Ba Vi), Nghệ An (Quỷ Châu). Thông đỏ lá dài: đến tháng 7/2006. t6 chức IUCN đã tìm thấy loài Thông đỏ li dai tại Afghanistan, Bhutan, tây nam Trung Quốc (Sichuan, Xizang, Yunnan), An Độ (Arunachal Pradesh, Assam. Himachal Pradesh, Jammu-Kashmir, Manipur, Sikkim, Uttar Pradesh), phía bắc Myanmar.
loài này được tìm thay ở một sô vùng núi cao thuộc các tinh Lao Cai (Hoàng Liên Sơn), Khánh Hòa. Lâm Đông (Da Lạt, Đơn Dương. độ cao phân bô khoảng 1. Sự phân bổ của Thông đỏ khá đa dang trong khu vực Lâm Đồng, nhưng số lượng cá thể ở mỗi nơi lại ít.
Số lượng cá thể nhiều nhất tại khu vực Núi Voi (100 cây), tại đây cây không bị che phủ và phát triển tương đối tốt. Ở những nơi bị che phủ như Lán Tranh thì số lượng cá thể ít (1 cây). Có nơi cây lại giả cỗi. chăng hạn như khu vực Cổng Trời số lượng cá thé là 20 cây nhưng lại gia cỗi, gần như không phát triển nữa.3 Sinh thái Pham vi độ cao: 2.500 m so với mặt biên.
Dạng rừng: rừng nhiệt đới thường xanh, trên dat phong hóa từ granit. Cây càng lớn đòi hỏi ánh sáng cảng cao. Trong ting ưu thé sinh thai, nơi nào có khoảng trồng, lượng ánh sáng nhiều thi cây phát triển mạnh và ngược lại thi tán cây phát triển lệch nơi có ánh sáng cao. Khí hậu: nhiệt đới gió mùa.
nhiệt độ trung bình năm 20-25 “C. Thông do phan bê ở vùng khi hậu nhiệt đới núi thắp và trung bình có hai mùa rõ rệt trong Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan tài liệu — —=—=—————————————————————— — nam. mùa mưa kéo dai tử thang 4 đến tháng 10, lượng mưa trung bình 1.800 mm (Tai liệu của Dai khí tượng - thủy văn Lâm Đồng. Thẻ nhường: thích hợp với đất có thành phan cơ giới nhẹ, thoát nước, phát triển trên đất nâu vàng phiến thạch hay đất nâu đỏ trên đắt bazan.
Tham thực vật: ở Lâm Đồng. Thông đỏ thường phân bó rải rác hỗn giao với các loai cây lá rộng thường xanh và cây lá kim với kiểu rừng chính là hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim. Trong kiểu thảm nay chúng phân bé ở tang ưu thé sinh thái hợp với các loài đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), kim giao nam (Nageia wallichiana), thông tre lá đài (Podocarpus neriifolius), thông nàng (Daerycarpus imbricatus), du sam (Keteleeria evelyniana) và một số loài thuộc Fagaceae, Ericaceae, Euphorbiaceae. Hat phát tán không xa (Với bán kính 6-8 m so với tâm cây); nảy mam và phát triển nơi có độ 4m cao.
cường độ ánh sáng trung bình. Tỷ lệ nay mam trong tự nhiên rất thắp so với sô lượng hạt cây mang hàng năm. Tái sinh tự nhiên: ít gặp. cây mắm và cây non chịu bóng tốt Nhin chung chúng được coi là cây khỏa tử chịu bóng hoặc ưa sáng.
thường mọc dưới tan một số cây gỗ thuộc các họ Long não (Lauraceae), Mộc lan (Magnoliaceae), Hồi (Illiaceae). Thông đỏ thường ra lá non vào mùa Xuân- Hè, nón đực xuất hiện sớm hơn nón cái từ cuối mùa đông. nhưng đến mùa xuân năm sau cả nón đực và nón cái mới nở. Thông đỏ sinh trưởng cham, tái sinh tự nhiên từ hạt khó.Tuy vậy, nếu trên đỉnh núi có vai cây to, vẫn có thể thấy những cây con mọc từ hat.
Vai năm gần đây, một số cơ sở nghiên cứu ở Hà Nội và Đà Lạt đã thí nghiệm thành công việc nhân giống thông đỏ bang cành.4 Trồng trọt và thu hoạch Ra hoa vào thang 8-12 va đến tháng 6-7 năm sau thì kết trái. Mùa quả chin vào tháng 10-12, Điểm đặc biệt ở đây là mùa quả chin cùng chỉnh là mùa ra hoa. Khóa luận tốt nghiệp Tẳng quan tài liệu 1.2 Bao tồn [11] Bảo tồn tại chỗ: vườn Quốc gia Bidoup-Núi Ba, Lâm Đồng, nơi có quản thé Thông đỏ còn sống sót, được thành lập đầu năm 2005 theo quyết định của Thủ tướng nhằm bảo vệ khu rừng cổ, đa dang về sinh học và còn nguyên vẹn nhất ở Việt Nam này.3 Chăm sóc Thông đỏ ở vườn quốc gia Bidoup Bảo tồn chuyến vị: không thé chỉ trông chờ vào Thông đỏ tự nhiên mà phải khẩn trương gây trồng, nhân giống quy mô lớn. Hơn 10 năm qua, Phân viện Sinh học Đà Lạt và một số cơ quan khác đã day công nghiên cứu và đã hoàn chỉnh quy trình nhân giống Thông đỏ bằng nhiều biện pháp như chiết cành, giâm hom, nuôi cấy mô.
tạo nên thế hệ kế cận cho loài cây cực kỳ quí hiếm này. - 12- Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan tài liệu 1.3 Độc tính và tính chất được lý (1) 1.1 Độ Độc tính nước lá thông đỏ, cho chuột cống trắng cai uống liễu 100 và 500mg/kẹ, trong những ngày 1-7 sau khi giao hợp có tác dụng ức chế sự thụ thai 60% và 80% tương ứng. Vỏ cây, lá va hạt thông đỏ có tác dụng độc như: nôn ,tiêu chảy, mê sang, có tác dụng ức chế tim làm giảm lực co tim, giảm nhịp tim và phong bế nhĩ thất do tác dụng ức chế kênh natri và canxi. Là loài cây có độc gồm I1 alkaloid gọi chung lả taxin, nhiều trường hợp gây ngộ độc cho gia súc khi ăn phải lá của cây thông này.2 Tác dụng dược lý theo kinh nghiệm dan gian Thông đỏ là nguồn được liệu rất quý trongy học.Từ lâu, trong y học cổ truyền Án Độ, cao lá khô va cao vỏ thông đỏ được dùng trị hen, viêm phé quan, nic, tiêu hóa.; cảnh và vỏ ding trị bệnh thực tích, giun đũa; nước sắc của thân non dùng trị bệnh đau đầu.
Trong y học dân gian Trung Quốc, thông đỏ được coi là có tác dụng tiêu ích, thông tim mạch, giảm đau, cành và lá được dùng dé trị thực tích, bệnh giun đũa. Nước sắc của thân non được dùng trị đau đầu, nhiều mật. Ở Thế Nhĩ Kỷ, nhân dân dùng đẻ trị bệnh tim. Đặc biệt gỗ cây thông đỏ được dùng để trị bệnh tiêu đường.1 Lược sử tim ra taxol Vào đầu những năm 1960, NCI đã phát triển một chương trình nghiên cứu dịch chiết từ các nguồn khác nhau trong tự nhiên.
Năm 1962, một trong những dịch chiết đã được phát hiện có hoạt tính chống ung thư rõ rệt, có khả năng cô lập những khối u. Tuy nhiên, công trình này đã không được phát triển cho tới khi 2 nhà nghiên cứu Wall và Wani của Viện nghiên cứu Triangle, Bắc Carolina, tách ra được một hợp chất có hoạt tính chống ung thu từ cây Thông đỏ Thái Binh Duong Taxus brevifolia, Năm 1971, Wall và Wani đã công bế cấu trúc của hợp chất này, gọi là paclitaxel. -13- Khóa luận tốt nghiệp Tầng quan tài liệu KH HP In tr 9 CC! BEERERRERGOGSGENEGRRGGGGRRRRGREEEESEEGSSEE===e 1.2 Danh pháp quốc te 5-20-epoxy-1a. I 3a-hexahydroxytax- | l-en-9-one-4, | 0- diacetate 2-benzoate- | 3-ester với (2R.3 Cấu trúc Phân tử taxol được chia làm 2 phân: mạch bên va khung.
- Mạch bên: có vai trò then chốt trong việc duy trì hoạt tính. Hoạt tinh của cau trúc nay đã được nghiên cứu bởi hai nhà khoa học là Potier va Swindell: *Sự che mat đi nhóm C;' hydroxy! sẽ làm mat hoạt tính trong hệ thống microtublin. *Nhóm C;' amid-acyl đóng vai trò then chốt. ngoài ra nó còn có thé là một chat thom hay một alkyl ngoài tự nhiên.
*Cy' nỗi nitrogen có thé được thay thé bởi một nguyên tử oxygen mà không làm mat hoạt tinh. *Sự hiện điện của nhóm C;' aryl 1a rất cần thiết.