Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng" được thực hiện bởi sinh viên Đỗ Thị Trang (Lớp K35 Cử nhân Lịch sử, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2), dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo Nguyễn Văn Nam vào năm 2013.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Di tích lịch sử cùng lễ hội truyền thống là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý báu được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Cả nước hiện có khoảng hơn 800 lễ hội truyền thống cùng số lượng di tích quốc gia phong phú. Trong bức tranh chung đó, huyện Vĩnh Bảo (thành phố Hải Phòng) là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và hiếu học thuộc châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình, nổi bật với hệ thống di tích, danh thắng dày đặc như chùa Mét, miếu Bến, chùa Đồng Quan, miếu Cựu Điện, miếu Ba Vua, chùa Trăm Cột, cùng nhiều làng nghề và nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo.

Đặc biệt, Vĩnh Bảo là quê hương của Danh nhân văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585). Khu di tích đền thờ và lễ hội kỷ niệm ngày mất của Trạng Trình tại làng Trung Am, xã Lý Học là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh quy mô lớn của thành phố Hải Phòng và cả nước. Trước thời điểm nghiên cứu, các công trình học thuật chủ yếu tập trung vào thơ văn, giai thoại, cuộc đời và sấm ký của Nguyễn Bỉnh Khiêm; một số ít tài liệu địa phương đề cập đến di tích nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và logic về cả quần thể di tích lẫn lễ hội đền Trạng. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận lịch sử văn hóa lẫn thực tiễn quản lý, bảo tồn di sản.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là tìm hiểu toàn diện về di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nhiệm vụ 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa huyện Vĩnh Bảo cùng thân thế, sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và vị trí của ông trong tâm thức dân gian.
  2. Nhiệm vụ 2: Khảo cứu lịch sử hình thành, kiến trúc khu di tích và tiến trình tổ chức lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm; qua đó đánh giá điểm mạnh, thực trạng còn tồn tại nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di tích và lễ hội.
  3. Nhiệm vụ 3: Phân tích vai trò, đặc điểm đặc thù của khu di tích và lễ hội đền Trạng Trình đối với đời sống văn hóa, xã hội và kinh tế địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quần thể di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
  • Phạm vi thời gian:
    • Đối với lịch sử hình thành và phát triển của di tích đền Trạng: Khảo sát tiến trình từ năm Trạng mất (1585) đến năm 2012.
    • Đối với lễ hội đền Trạng: Tập trung khảo cứu giai đoạn từ năm 1927 đến năm 2012.
  • Phạm vi không gian: Trọng tâm là quần thể di tích và không gian tổ chức lễ hội tại làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Đồng thời, tác giả mở rộng tìm hiểu các địa điểm, dấu tích liên quan đến danh nhân tại các địa phương khác như Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình và Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về nghiên cứu Lịch sử, bảo đảm nguyên tắc khách quan, lịch sử cụ thể và nhìn nhận hiện tượng văn hóa trong mối liên hệ biện chứng với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của từng thời kỳ.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, bao gồm:

  • Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử (tái hiện tiến trình hình thành, biến đổi của ngôi đền và lễ hội theo trục thời gian) kết hợp phương pháp lôgíc (phân tích cấu trúc, đặc trưng và giá trị của di sản).
  • Phương pháp bổ trợ: Miêu tả, tường thuật, sưu tầm, thu thập, xử lý tư liệu văn bản, thống kê, phân tích và so sánh đối chiếu tư liệu nhằm xác minh các sự kiện, nhân vật và hiện vật lịch sử.

Nguồn dữ liệu

Nguồn tư liệu của khóa luận được khai thác từ nhiều nhóm nguồn phong phú:

  1. Chính thư và thư tịch cổ: Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí lược, văn bia cổ tại di tích (Từ Vũ Bi Ký niên hiệu Vĩnh Hựu), cùng các bản phả ký cổ như Bạch Vân Am cư sĩ Phả ký (Vũ Khâm Lân, 1743).
  2. Các công trình nghiên cứu và kỷ yếu khoa học: Tác phẩm của các tác giả Phạm Đan Quế, Nguyễn Nghiệp, Phạm Minh Thảo, Lương Cao Rính; Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 400 năm ngày mất danh nhân (1985) do Thành ủy, UBND thành phố Hải Phòng và Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức.
  3. Tài liệu hành chính và điền dã địa phương: Báo cáo, tài liệu do Phòng Văn hóa Thông tin huyện Vĩnh Bảo và UBND xã Lý Học biên soạn; tư liệu khảo sát thực địa hiện vật, bia đá, hoành phi, câu đối và kiến trúc hiện hữu tại đền.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về thân thế sự nghiệp Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương 1 phác họa toàn cảnh về không gian địa - văn hóa huyện Vĩnh Bảo, cuộc đời, tư tưởng, sự nghiệp trước tác và tầm ảnh hưởng sâu rộng của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử dân tộc.

Tiêu chí Dữ liệu lịch sử và đặc điểm địa phương
Vị trí & Địa lý Vĩnh Bảo Cửa ngõ Tây Nam Hải Phòng, diện tích >180 km², dân số >19 vạn; 1 thị trấn và 29 xã; hạ lưu sông Thái Bình, kẹp giữa sông Luộc và sông Hóa; có Quốc lộ 10 và Quốc lộ 37 đi qua.
Truyền thống văn hóa - khoa bảng Quê hương Nguyên soái Cao Đức Lang (504), Đô đốc Hoa Duy Thành (thế kỷ XIII); có 1 trạng nguyên, 1 bảng nhãn, 1 hoàng giáp, 1 phó bảng, 11 đồng tiến sĩ. Làng Cổ Am tiêu biểu ("Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện") với 40 tiến sĩ thời nay.
Làng nghề & Nghệ thuật dân gian Dệt vải Cổ Am, tạc tượng mộc mỹ nghệ Bảo Hà - Đồng Minh (cụ tổ nghề Tô Phú Vượng), tạo hình hoa quả Nhân Mục; múa rối nước Nhân Hòa, múa rối cạn Bảo Hà; hội thi pháo đất tổng Đông và tổng Bắc; di tích miếu Cựu Điện, chùa Trăm Cột.

Về thân thế sự nghiệp của danh nhân:

  • Thời niên thiếu: Sinh năm Tân Hợi (1491, niên hiệu Hồng Đức thứ 22 đời vua Lê Thánh Tông) tại thôn Trung Am, tên thuở nhỏ là Nguyễn Văn Đạt. Thân phụ là cụ Nguyễn Văn Định (được phong Thái Bảo nghiêm quận công, Cù Xuyên tiên sinh), thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục (con gái Thượng thư Bộ Hộ Nhữ Văn Lan, tinh thông Hán học và thuật số). Năm 1509 (18 tuổi), ông vào Thanh Hóa theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng.
  • Quan lộ và thoái ẩn: Năm 1535 (45 tuổi, đời Mạc Đăng Doanh), ông đổi tên thành Nguyễn Bỉnh Khiêm, đỗ Hội nguyên và đỗ Đình nguyên Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên). Ông giữ các chức Đông các hiệu thư, Tả thị lang Bộ Hình, Tả thị lang Bộ Lại, Đông các Đại học sĩ. Năm 1542, sau khi dâng sớ chém 18 lộng thần không được vua Mạc chấp thuận, ông treo ấn từ quan về quê lập Quán Trung Tân, dựng Am Bạch Vân mở trường dạy học.
  • Sự nghiệp trước tác và phong hàm: Ông được vua Mạc kính trọng ban tước Trình Tuyền hầu, Thái phó, Trình Quốc công. Các tác phẩm tiêu biểu gồm: Bạch Vân am thi tập (chữ Hán), Bạch Vân quốc ngữ thi (chữ Nôm), Trình Quốc công Bạch Vân ký, Trình Quốc công sấm ký. Thơ văn của ông mang tư tưởng yêu nước, thương dân, ghét chiến tranh phi nghĩa và phê phán thói đời trục lợi tha hóa.
  • Tâm thức dân gian và sấm ký: Ông được môn sinh tôn vinh là "Tuyết Giang phu tử". Hệ thống sấm ký Trạng Trình gắn liền với nhiều biến cố lịch sử (khuyên chúa Nguyễn "Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân", khuyên nhà Mạc "Cao Bằng tuy thiểu, khả duyên số thế", dự ngôn về khởi nghĩa Yên Bái 1930, Thế chiến II 1940-1945, Cách mạng Tháng Tám 1945 Cụ Hồ về Hà Nội). Dân làng Trung Am, Thanh Am, Lệ Mật suy tôn ông làm Thành hoàng; đạo Cao Đài tôn vinh ông là Đệ nhất Thánh trong Tam thánh.

Chương 2: Di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng

Chương 2 trình bày chi tiết về nguồn gốc, quy mô kiến trúc của quần thể di tích và diễn trình tổ chức lễ hội đền Trạng qua các thời kỳ lịch sử.

Tiến trình lịch sử ngôi đền:
1585: Mạc Mậu Hợp ban 3.000 quan tiền, dựng đền, đề biển "Mạc triều Trạng nguyên tể tướng từ"
  • Lịch sử ngôi đền: Sau khi Trạng mất ngày 28/11 năm Ất Dậu (1585), vua Mạc cử Phụ chính Ứng vương Mạc Đôn Nhượng về viếng tang, ban 3.000 quan tiền để lập đền thờ tại Trung Am, tự tay đề biển ngạch "Mạc triều Trạng nguyên tể tướng từ" và cấp 100 mẫu ruộng thờ. Năm 1592, quân Trịnh tiến công tàn phá khu vực Hạ Hồng, đền bị hư hại. Đến năm 1735 (Ất Mão, đời vua Lê Ý Tông), dân làng dựng lại đền trên nền trường học cũ, dựng bia Từ vũ bi ký (1736).
  • Kiến trúc quần thể hiện đại: Ngôi đền hiện hữu mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn theo bố cục mặt bằng chữ Đinh (丁), gồm 5 gian tiền đường và 2 gian hậu cung, trang trí hoa văn chạm khắc tỉ mỉ như hoa chanh, trắm lồng. Quần thể di tích bao gồm các phân khu chính:
    • Đền thờ Trạng Trình: Trung tâm thờ tự tôn nghiêm.
    • Bạch Vân Am: Nơi Trạng dạy học, đàm đạo thi ca thuở xưa.
    • Nhà thờ song thân phụ mẫu: Thờ cụ Nguyễn Văn Định và cụ bà Nhữ Thị Thục.
    • Phần mộ cụ Nguyễn Văn Định: Dấu tích tưởng niệm thân phụ danh nhân.
    • Nhà trưng bày hiện vật: Nơi lưu giữ các cổ vật, tư liệu, hình ảnh, văn bia liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp Trạng Trình.
  • Lễ hội đền Trạng và công tác bảo tồn: Lễ hội chính diễn ra vào ngày 28 tháng 11 âm lịch hằng năm (ngày mất của Trạng). Từ mốc năm 1985 (kỷ niệm 400 năm ngày mất) và năm 1991 (kỷ niệm 500 năm ngày sinh), di tích được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia; các cấp chính quyền thành phố Hải Phòng và huyện Vĩnh Bảo đã quy hoạch, đầu tư tôn tạo khuôn viên, khôi phục tế lễ cổ truyền và các trò chơi dân gian.

Chương 3: Vai trò, đặc điểm di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng

Chương 3 tổng kết các nét đặc thù và làm rõ những giá trị cốt lõi của di tích và lễ hội:

  • Các đặc điểm nổi bật:
    1. Di tích và lễ hội lâu đời, ăn sâu vào tiềm thức nhân dân: Trải qua hơn 400 năm thăng trầm, sự ngưỡng vọng đối với Trạng Trình trở thành một phần bản sắc văn hóa của người dân Vĩnh Bảo và châu thổ Bắc Bộ.
    2. Quy mô lớn nhất về danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm: Đây là quần thể không gian tưởng niệm tập trung, đầy đủ và tiêu biểu nhất về cuộc đời Trạng Trình.
    3. Tính độc đáo riêng biệt: Sự kết hợp hài hòa giữa không gian di tích danh nhân văn hóa - giáo dục với các sinh hoạt văn hóa dân gian vùng nông nghiệp lúa nước.
  • Hệ giá trị và vai trò:
    • Giá trị giáo dục truyền thống: Nêu cao tấm gương hiếu học, khí tiết thanh cao, lòng yêu nước thương dân và tư tưởng hòa bình cho thế hệ trẻ.
    • Giá trị cố kết cộng đồng: Là điểm hội tụ tinh thần đoàn kết làng xã, kết nối người dân địa phương với khách hành hương thập phương.
    • Giá trị kinh tế - xã hội: Tạo động lực phát triển du lịch văn hóa tâm linh, dịch vụ địa phương, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Bảo và thành phố Hải Phòng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Khóa luận đã hệ thống hóa tư liệu lịch sử về vùng đất Vĩnh Bảo và danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm, làm rõ các mốc niên đại quan trọng: sinh năm 1491, đỗ Trạng nguyên năm 1535 (45 tuổi), từ quan năm 1542, tạ thế ngày 28/11/1585 (hưởng thọ 95 tuổi).
  2. Phục dựng mạch lạc tiến trình lịch sử của ngôi đền qua các mốc: khởi dựng năm 1585 dưới triều Mạc, bị tàn phá năm 1592, phục hồi năm 1735 (Vĩnh Hựu nguyên niên), lập bia năm 1736 (Từ vũ bi ký), định hình kiến trúc thời Nguyễn (kiểu chữ Đinh: 5 gian tiền đường, 2 gian hậu cung) và các đợt đại trùng tu từ sau năm 1985 đến 2012.
  3. Khảo cứu không gian cấu trúc quần thể di tích (Đền chính, Bạch Vân Am, Nhà thờ song thân, Mộ thân phụ, Nhà trưng bày hiện vật) và không gian diễn xướng lễ hội truyền thống ngày 28/11 âm lịch.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch tổng thể không gian khu di tích, bảo vệ nghiêm ngặt các cấu kiện kiến trúc cổ và hiện vật còn lưu giữ.
  • Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương trong việc tổ chức phần lễ trang nghiêm, phần hội lành mạnh, loại bỏ các hủ tục và hoạt động thương mại hóa phản cảm.
  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá giá trị di tích gắn với các tuyến du lịch văn hóa - làng nghề của huyện Vĩnh Bảo (như làng tạc tượng Bảo Hà, dệt Cổ Am, múa rối Nhân Hòa).

Đóng góp của đề tài

Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống đầu tiên về cả hai phương diện: quần thể di tích vật thể và lễ hội phi vật thể đền Trạng Trình tại Hải Phòng. Đề tài bổ sung nguồn tư liệu lịch sử - văn hóa địa phương có giá trị khoa học, khắc phục sự tản mạn của các bài viết giai thoại hoặc nghiên cứu văn học thuần túy trước đó.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả tự nhận định do thời gian nghiên cứu có hạn và là bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên sâu nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Nhiều tài liệu bia ký, hiện vật và tư liệu Hán Nôm cổ qua chiến tranh bị thất lạc, mòn mờ chưa thể giám định toàn bộ.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Khảo sát, so sánh đối chiếu sâu hơn với các di tích thờ Trạng Trình tại các địa phương khác (Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Nam Bộ); đào sâu phân tích văn bản học các bài sấm ký và khảo cứu khảo cổ học đối với nền móng kiến trúc cổ thời Mạc tại khu vực Am Bạch Vân.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên, giảng viên: Thuộc các ngành Sư phạm Lịch sử, Cử nhân Lịch sử, Văn hóa học, Việt Nam học, Di sản học khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI, triều Mạc và danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm.
  • Cơ quan quản lý và cán bộ văn hóa: Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ công tác lập hồ sơ di tích, quy hoạch bảo tồn và tổ chức lễ hội tại huyện Vĩnh Bảo và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 (khảo cứu lịch sử ngôi đền và cấu trúc phân khu di tích) cùng mục khảo cứu sấm ký - tâm thức dân gian trong Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngôi đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được khởi dựng lần đầu tiên vào năm nào và do ai ban sắc chỉ?
Đền được khởi dựng lần đầu vào năm 1585 (năm Trạng mất) theo chỉ dụ của vua Mạc Mậu Hợp. Triều đình nhà Mạc đã cử Phụ chính Ứng vương Mạc Đôn Nhượng về làm khâm sai, cấp 3.000 quan tiền, 100 mẫu ruộng thờ và ban tặng biển ngạch "Mạc triều Trạng nguyên tể tướng từ".

2. Kiến trúc hiện tại của ngôi đền mang phong cách thời kỳ nào và có quy mô ra sao?
Kiến trúc đền hiện nay mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, được xây dựng theo kiểu chữ Đinh (丁), bao gồm 5 gian tiền đường và 2 gian hậu cung với các họa tiết chạm khắc trang trí như hoa chanh, trắm lồng.

3. Phạm vi thời gian nghiên cứu của khóa luận được giới hạn như thế nào?
Khóa luận giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu đối với lịch sử hình thành và phát triển của di tích từ năm 1585 đến năm 2012; đối với lễ hội đền Trạng từ năm 1927 đến năm 2012.

4. Nguyễn Bỉnh Khiêm và thân phụ của ông được triều đình phong tặng những chức tước, phẩm hàm tiêu biểu nào?
Thân phụ ông là cụ Nguyễn Văn Định được phong tước Thái Bảo nghiêm quận công, đạo hiệu Cù Xuyên tiên sinh. Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên năm 1535, kinh qua các chức Tả thị lang Bộ Hình, Tả thị lang Bộ Lại, Đông các Đại học sĩ, được vua Mạc phong tước Trình Tuyền hầu, Thái phó, Trình Quốc công.

5. Những cứ liệu lịch sử nào trong văn bản chứng minh sự phục hồi của ngôi đền vào thế kỷ XVIII?
Vào năm Vĩnh Hựu nguyên niên (1735, đời vua Lê Ý Tông), dân làng đã dựng lại đền thờ trên nền nhà học cũ. Dấu tích vật chất chứng minh là tấm bia đá Từ vũ bi ký được khắc dựng vào năm Bính Thìn (1736) hiện vẫn còn lưu giữ tại di tích.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đỗ Thị Trang là công trình nghiên cứu lịch sử - văn hóa địa phương nghiêm túc, tái hiện toàn diện bức tranh về thân thế, sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng lịch sử thăng trầm của ngôi đền từ thế kỷ XVI đến năm 2012. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc, tác giả đã làm rõ các giá trị kiến trúc, tư liệu bia ký và ý nghĩa giáo dục - xã hội to lớn của lễ hội đền Trạng đối với cộng đồng. Công trình mang lại giá trị học thuật thiết thực, là nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn di sản văn hóa tại Hải Phòng.