Khóa luận tốt nghiệp toán ứng dụng mô hình logistic tính toán sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm ở việt nam

Luận văn tốt nghiệp toán học nghiên cứu tốt nghiệp toán ứng dụng mô hình logistic tính toán sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả, điều tra thực trạng, phân tích số liệu,

Trường đại học

Đại học Sài Gòn

Chuyên ngành

Toán ứng dụng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

62
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƢƠNG PHÁP LUẬN PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ TIÊU LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM

1.1. KHÁI NIỆM VỀ NGUỒN LAO ĐỘNG

1.2. LỰC LƢỢNG LAO ĐỘNG

1.3. PHƯƠNG PHÁP TÍNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1.4. PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CÓ VIỆC LÀM

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM. MÔ HÌNH LOGISTIC TÍNH TOÁN SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CÓ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

2.1. LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG

2.2. PHÂN TÍCH LAO ĐỘNG CÓ VIỆC LÀM

2.3. MÔ HÌNH LOGISTIC TÍNH TOÁN SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CÓ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

2.3.1. PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM VÀ XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CÓ VIỆC LÀM

2.3.1.1. MÔ TẢ SỐ LIỆU
2.3.1.2. MÔ TẢ BIẾN SỐ

2.3.2. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM THEO CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CÓ VIỆC LÀM

2.3.2.1. PHÂN TÍCH MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM THU ĐƯỢC
2.3.2.2. PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Khóa Luận Toán Ứng Dụng

Khóa luận toán ứng dụng là một nghiên cứu chuyên sâu về việc áp dụng các phương pháp toán học vào thực tiễn, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và xã hội. Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng mô hình logistic để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm tại Việt Nam. Toán ứng dụng trong kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các dự báo và quyết định chính sách dựa trên dữ liệu thực tế. Khóa luận này không chỉ mang tính học thuật mà còn có giá trị thực tiễn cao, giúp hiểu rõ hơn về thị trường lao động Việt Nam.

1.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu

Mục tiêu chính của khóa luận là hệ thống hóa lý luận về nguồn lao động, phân tích thực trạng lao động - việc làm tại Việt Nam từ năm 2005 đến 2010, và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm thông qua mô hình hồi quy logistic. Nghiên cứu cũng nhằm đưa ra các khuyến nghị chính sách để cải thiện tình trạng việc làm, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.

1.2. Phương Pháp Nghiên Cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp phân tích thống kêkinh tế lượng để xây dựng mô hình logistic. Dữ liệu được thu thập từ cuộc điều tra lao động việc làm năm 2010, bao gồm các biến số như giới tính, trình độ học vấn, khu vực sinh sống, và ngành nghề. Phương pháp này giúp đánh giá chính xác tác động của từng yếu tố đến khả năng có việc làm.

II. Mô Hình Logistic

Mô hình logistic là công cụ toán học được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc dạng nhị phân. Trong nghiên cứu này, mô hình logistic được áp dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm tại Việt Nam. Mô hình này cho phép dự đoán xác suất một người có việc làm dựa trên các đặc điểm cá nhân và kinh tế - xã hội. Kết quả từ mô hình logistic giúp hiểu rõ hơn về cơ cấu và xu hướng thị trường lao động.

2.1. Phân Tích Dữ Liệu Việc Làm

Dữ liệu được phân tích bao gồm thông tin về lực lượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp, và các yếu tố như trình độ học vấn, giới tính, và khu vực sinh sống. Kết quả cho thấy trình độ học vấn và khu vực đô thị có tác động tích cực đến khả năng có việc làm, trong khi lao động nông thôn và trình độ thấp có nguy cơ thất nghiệp cao hơn.

2.2. Kết Quả Mô Hình

Mô hình logistic chỉ ra rằng các yếu tố như trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, và khu vực đô thị có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng có việc làm. Đặc biệt, lao động có trình độ đại học có xác suất có việc làm cao hơn so với nhóm có trình độ thấp. Kết quả này phù hợp với thực trạng thị trường lao động Việt Nam, nơi mà nhu cầu về lao động có kỹ năng ngày càng tăng.

III. Phân Tích Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Việc Làm

Nghiên cứu tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm tại Việt Nam, bao gồm trình độ học vấn, giới tính, khu vực sinh sống, và ngành nghề. Kết quả cho thấy trình độ học vấn là yếu tố quan trọng nhất, tiếp theo là kinh nghiệm làm việc và khu vực đô thị. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự chênh lệch lớn về cơ hội việc làm giữa khu vực thành thị và nông thôn.

3.1. Trình Độ Học Vấn

Trình độ học vấn có tác động mạnh mẽ đến khả năng có việc làm. Lao động có trình độ đại học có xác suất có việc làm cao hơn 30% so với nhóm có trình độ thấp. Điều này phản ánh nhu cầu ngày càng tăng về lao động có kỹ năng trong nền kinh tế hiện đại.

3.2. Khu Vực Sinh Sống

Khu vực đô thị có tỷ lệ việc làm cao hơn so với nông thôn, do sự tập trung của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, lao động nông thôn thường phải đối mặt với tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp, đòi hỏi các chính sách hỗ trợ từ chính phủ.

IV. Thực Trạng Việc Làm Tại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích thực trạng việc làm tại Việt Nam từ năm 2005 đến 2010, cho thấy sự gia tăng đáng kể của lực lượng lao động, đặc biệt là ở khu vực đô thị. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn cao, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự chênh lệch lớn về cơ hội việc làm giữa các nhóm lao động khác nhau.

4.1. Lực Lượng Lao Động

Lực lượng lao động Việt Nam tăng trưởng ổn định với tốc độ trung bình 2.33% mỗi năm. Tuy nhiên, sự gia tăng này đi kèm với thách thức về chất lượng việc làm, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi mà lao động thường phải đối mặt với tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp.

4.2. Thất Nghiệp Và Thiếu Việc Làm

Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn cao, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Nguyên nhân chính là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và quá trình đô thị hóa, dẫn đến sự thiếu hụt kỹ năng và cơ hội việc làm cho lao động nông thôn.

V. Kết Luận Và Khuyến Nghị

Khóa luận kết luận rằng mô hình logistic là công cụ hiệu quả để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện tình trạng việc làm, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Các giải pháp bao gồm nâng cao trình độ học vấn, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

5.1. Khuyến Nghị Chính Sách

Nghiên cứu đề xuất các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và nâng cao trình độ học vấn cho lao động nông thôn. Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ tại khu vực nông thôn để tạo thêm cơ hội việc làm.

5.2. Hướng Phát Triển Nghiên Cứu

Nghiên cứu cũng gợi ý hướng phát triển trong tương lai, bao gồm việc mở rộng phân tích đến các yếu tố vĩ mô như chính sách kinh tế và tác động của toàn cầu hóa đến thị trường lao động Việt Nam.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề chung về cơ sở lý luận, phương pháp luận phân tích, đánh giá các chỉ tiêu lao động việc làm.  Chương 2: Phân tích thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam. Mô hình logistic tính toán sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm ở Việt Nam  Kết luận. 10 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƢƠNG PHÁP LUẬN PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ TIÊU LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM 1.1 KHÁI NIỆM VỀ NGUỒN LAO ĐỘNG - Theo từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Liên Xô cũ (Matxcơva 1997- Bản tiếng Nga): Nguồn Lao động là toàn bộ những nguời lao động dưới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động).

- Theo từ điển thuật ngữ lao động Pháp (1997-1985- Bản tiếng Pháp) nguồn lao động không gồm những người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc. Theo quan điểm này phạm vi dân số được tính vào nguồn lao động theo nghĩa hẹp hơn so với quan điểm nêu trong từ điển thuật ngữ về lao động của Liên Xô cũ. - Theo giáo trình kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội: nguồn lao động là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động (trừ những người tàn tật, mất sức lao động loại nặng) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế có làm việc.2 LỰC LƢỢNG LAO ĐỘNG - Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Lực lượng lao động (LLLĐ) là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp. - Ở Việt Nam: LLLĐ là những người từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và không có việc làm (dân số hoạt động kinh tế).

Các quan niệm nêu trên về LLLĐ mới chỉ làm rõ được phần nào về mặt định tính hoặc định lượng của chỉ tiêu LLLĐ, không thể dùng lầm căn cứ đánh giá thống kê về quy mô LLLĐ.  Khái niệm về LLLĐ được sử dụng trong cuộc điều tra lao động việc làm ở Việt Nam năm 2010: - LLLĐ (tương đương với khái niệm dân số hoạt động kinh tế) bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. - LLLĐ trong độ tuổi lao động (tương đương với khái niệm dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi và nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. Khái niệm này về cơ bản thống nhất với quan điểm của ILO và quy định hiện hành của Tổng cục Thống kê về LLLĐ (LLLĐ đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế), chỉ có cụ thể hơn nhóm thứ hai của LLLĐ là những người thất nghiệp, chứ không nói chung chung là không có việc làm.

Nó được sử dụng làm căn cứ khi tính toán thống kê LLLĐ ở Việt Nam hiện nay. 12 LLLĐ tuy là một bộ phận của nguồn lao động nhưng không đồng nhất với nguồn lao động. LLLĐ không bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không tham gia hoạt động kinh tế như: đang đi học, đang làm nội trợ cho gia đình hoặc chưa có nhu cầu làm việc. Do vậy, ngoài các đặc trưng về nhân khẩu, về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kĩ thuật như đã nêu trên, LLLĐ còn bao hàm các đặc trưng về trình độ, cơ cấu, kĩ năng nghề nghiệp, cấu trúc đào tạo, tác phong kĩ luật lao động, đạo đức làm nghề, sự hiểu biết về luật pháp, khả năng đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khả năng hội nhập với thị trường lao động trong khu vực và trên thế giới.

Để có thể tính toán thống kê quy mô LLLĐ ở một thời điểm nào đó cần xác định rõ khái niệm việc làm, người có việc làm và người thất nghiệp.1 Việc làm Việc làm luôn là những vấn đề có tính thời sự và là mối quan tâm không chỉ của mọi người mà còn là của mọi Chính phủ và mọi tổ chức trong xã hội. Nhìn chung, trong các lý thuyết về việc làm các học giả đều thống nhất rằng mọi hoạt động được coi là việc làm khi đáp ứng được hai tiêu chuẩn sau đây:  Thứ nhất, đó là các hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm  Thứ hai, hoạt động đó phải đem lại thu nhập cho người lao động hoặc tạo điều kiện cho người lao động tham gia để tạo thu nhập hoặc giảm chi phí trong gia đình. Bộ luật Lao động Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 tại điều 13 đã quy định: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là 13 việc làm”. Hoạt động đem lại thu nhập có thể được lượng hóa dưới các dạng như: Người lao động nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc hiện vật từ người sử dụng lao động; tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua các hoạt động kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ; đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người thực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình quản lý, tất nhiên các hoạt động này đều là được pháp luật thừa nhận.

Tuy nhiên, trên thực tế nếu chỉ căn cứ vào hai tiêu thức là tính hợp pháp và thu nhập để xác định một hoạt động được có được coi là việc làm hay không thì có những hoạt động khó có thể xác định chính xác được và lại càng khó khan hơn trong việc đánh giá về vấn đề việc làm. Nếu chỉ căn cứ vào tính hợp pháp của hoạt động thì việc làm phụ thuộc vào pháp luật của từng quốc gia, thậm chí ngay trong cùng một quốc gia có những hoạt động ở thời kỳ này được coi là việc làm nhưng ở thời kì khác lại không được coi là việc làm. Mặt khác, nếu căn cứ vào thu nhập đem lại cho người lao động thì có nhiều loại hoạt động có ích cho xã hội, gia đình, cộng đồng nhưng lại không tạo ra thu nhập hoặc góp phần tạo ra thu nhập cá nhân hoặc xã hội. Như vậy, có thể thấy với cách tiếp cận này khái niệm việc làm chưa thể khái quát được bản chất việc làm.

Vì vậy, cần phải có một cách tiếp cận khác trong việc nghiên cứu về việc làm đó là: Có thể hiểu việc làm như một đơn vị hiểu là một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Theo quan điểm này việc làm có các đặc trưng sau:  Một là, việc làm là sự biểu hiện quan hệ của hai yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất.  Hai là, mang lại lợi ích (vật chất và tinh thần) cho xã hội.  Ba là, việc làm đó là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện mà họ sử dụng để thực hiện để thực hiện hoạt động.

Sự phù hợp này phải được thể hiện ở cả hai mặt chất lượng và số lượng. 14 Như vậy, chỉ khi ở đâu có sự phù hợp về số lượng của hai yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất (hoặc phương tiện sản xuất) thì ở đó có việc làm. Từ mối quan hệ này cho thấy tỷ lệ một đơn vị sức lao động có thể vận hành bao nhiêu đơn vị tư liệu sản xuất (thường biểu hiện ở chỉ tiêu xuất đầu tư cho một chổ làm việc). Tỷ lệ này phụ thuộc vào từng nghành nghề, từng nơi làm việc.

Mặt khác,trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất chỉ có tính chất tương đối và thường xuyên thay đổi do tiến bộ khoa học kĩ thuật hay trình độ phát triển của quan hệ sản xuất, theo hướng một đơn vị lao động sẽ vận hành ngày càng nhiều hơn số đơn vị lao động vật hóa. Khi chuyển hóa từ trạng thái phù hợp này sang trạng thái phù hợp khác, thông thường sẽ giảm bớt chi phí lao động, từ đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm. Căn cứ vào thời gian thực tế làm việc, chế độ làm việc và nhu cầu làm thêm của người được xác định là có việc làm trong tuần lễ trước điều tra, người có việc làm lại chia thành 2 nhóm: người đủ việc làm và người thiếu việc làm.1 Đủ việc làm “Việc làm đầy đủ” là sự thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm của các thành viên có khả năng lao động, nói cách khác là mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc đều có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn. ”Việc làm đầy đủ” mới chỉ đề cập về mặt số lượng, chưa tính đến yếu tố nguyện vọng, năng khiếu, sở trường, tức là tính đến yếu tố hợp lý của việc làm.

Theo điều tra lao động việc làm thì người đủ việc làm là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham khảo lớn hơn hoặc bằng 35 giờ, hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 35 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm, hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 35 giờ nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ chế độ quy định đối độc hại.2 Thiếu việc làm “Thiếu việc làm” là tình trạng có việc làm nhưng thời gian làm việc thấp hơn thời gian quy định và có nhu cầu làm thêm. Thiếu việc làm còn thể hiện dưới dạng làm việc có năng suất và thu nhập dưới mức thu nhập tối thiểu. Hiện nay, tình trạng thiếu việc làm còn phổ biến ở khu vực nông thôn. Thiếu việc làm là vấn đề được xem xét phức tạp hơn đôi chút.

Nguyên nghĩa của từ này trong tiếng Anh là underemployment-tức là chưa sử dụng hết, sử dụng dưới khả năng của người lao động. Thiếu việc làm được xem xét dưới hai góc độ là thiếu việc làm hữu hình (nhìn thấy) và thiếu việc làm vô hình (không nhìn thấy).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khóa Luận Toán Ứng Dụng: Mô Hình Logistic Phân Tích Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Việc Làm Tại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu sử dụng mô hình logistic để xác định các yếu tố tác động đến tình trạng việc làm ở Việt Nam. Bài viết cung cấp cái nhìn toàn diện về các biến số kinh tế, xã hội và giáo dục, giúp độc giả hiểu rõ hơn về thực trạng thị trường lao động. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức, bạn có thể tham khảo thêm các bài viết liên quan như Luận văn thạc sĩ chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp tại hà nội, Luận văn thạc sĩ việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp nghiên cứu điển hình trên địa bàn tp hồ chí minh, và Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố buôn ma thuột tỉnh đắk lắk. Những bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các chính sách và yếu tố ảnh hưởng đến việc làm tại Việt Nam.