Chương 1 ĐỊNH LÝ BAYES 1.1 GIỚI THIỆU Trong chương này, chúng ta sẽ trình bày các hình thức của phương pháp Bayes để phân tích khoa học và đưa ra quyết định. chúng ta sẽ giới thiệu các khái niệm về xác suất tiền nghiệm và phân phối xác suất tiền nghiệm, xác suất hậu nghiệm và phân phối xác suất hậu nghiệm.2 DẠNG TỔNG QUÁT CỦA ĐỊNH LÝ BAYES CHO CÁC SỰ KIỆN([1], Trang 41 - 43) Giả sử A1 , ., Ak , là một hệ đầy đủ các sự kiện. Khi đó, với mọi sự kiện B của cùng một phép thử và P {B} > 0 P {Aj }P {B|Aj } P {Aj |B} = k (1. P P {Ai }P {B|Ai } i=1 Trong thực tế các xác suất (P {A1 }, P {A2 }, ., P {Ak }) đã biết và được gọi là các xác suất tiền nghiệm.
Sau khi quan sát biết được sự kiện B xảy ra, các xác suất của Aj được tính trên thông tin này (xác suất có điều kiện P {Aj |B} ) được gọi là xác suất hậu nghiệm. Vì vậy, công thức Bayes còn được gọi là công thức xác suất hậu nghiệm.1 Tính chiều cao trung bình Trường hợp 1 : Chúng ta có số liệu về chiều cao của 10 học sinh bất kỳ (tính bằng cm) như sau: 152,155,157,159,160,162,163,165,169,171 6 Luận văn thạc sĩ - Chuyên ngành Toán Ứng Dụng Trang 7 Với số liệu trên ta có chiều cao trung bình của học sinh là: 161.3 Trường hợp 2 : Nhưng khi kiểm tra chiều cao của 600 học sinh khối 10 thì chúng ta có bảng số liệu sau đây. Chiều cao Số người Xác suất 152 30 0.999 Số chiều cao trung bình bây giờ chắc chắn không phải là 161.3, vì nó còn tùy thuộc vào thông tin về số đối tượng cho từng chiều cao. Chiều cao (xi ) Số người Xác suất (pi ) xi ∗ pi 152 30 0.3 Ta thấy chiều cao trung bình chính xác của học sinh toàn khối 10 là 160.
Bài toán trên cho thấy kết quả trung bình chiều cao có thể thay đổi khi chúng ta có thông tin. Trường hợp 1 chúng ta chỉ có thể dựa vào chiều cao của 10 học sinh để tính chiều cao trung bình. Nhưng trong trường hợp Nguyễn Huỳnh Tân - Cao học khóa 2013. Trang 7 Trang 8 Luận văn thạc sĩ 2 chúng ta có thông tin tiền nghiệm về phân bố chiều cao của nhiều học sinh nên tính chiều cao trung bình chính xác hơn.
Định lý Bayes có thể phát biểu một cách đơn giản như sau: [thông tin đang có]x[thông tin trước đây]=[thông tin mới] Nhìn qua định lý trên, chúng ta thấy suy luận Bayes có ba thông tin. Thông tin thứ nhất là thông tin mà chúng ta muốn biết: thông tin hậu nghiệm Thông tin thứ hai là thông tin chúng ta đã biết: thông tin tiền nghiệm. Thông tin thứ ba là thông tin thực tế: khả năng.1 Định lý Bayes cho các sự kiện đối lập Như một trường hợp đặc biệt của công thức (1.1), cho C biểu thị sự kiện bất kỳ và C̄ biểu thị sự kiện bổ sung cho C ( C và C̄ loại trừ lẫn nhau và đầy đủ). Khi đó, với bất kỳ sự kiện khác B, P {B} = 6 0.
Định lý Bayes cho các sự kiện trở thành: P {B|C}P {C} P {C|B} = − − .2 Xác suất tiền nghiệm Xác suất tiền nghiệm, là cần thiết trong định lý Bayes cho các sự kiện (công thức. Xác suất tiền nghiệm là mức độ tin tưởng mà các nhà phân tích đã có trước khi quan sát bất kỳ số liệu nào. Trong trường hợp không có xác suất tiền nghiệm (số liệu đó có thể là quá tốn kém, quá bất tiện, hoặc quá nhiều thời gian để có được), thì định lý Bayes không được sử dụng.3 Xác suất hậu nghiệm Xác suất hậu nghiệm là xác suất có được từ kết quả của việc áp dụng định lý Bayes.4 Tỉ lệ so sánh Một đại diện khác của xác suất tiền nghiệm hoặc xác suất hậu nghiệm là tỉ lệ so sánh. Nếu p biểu thị xác suất của một sự kiện E, tỉ lệ so sánh chống lại sự kiện E được cho bởi (1 − p)/p hoặc (1 − p) : p.
Các tỉ lệ so sánh thuận lợi của sự kiện E được cho bởi p/(1 − p) hoặc p : (1 − p). Nguyễn Huỳnh Tân - Cao học khóa 2013. Trang 8 Luận văn thạc sĩ - Chuyên ngành Toán Ứng Dụng Trang 9 1.3 ĐỊNH LÝ BAYES CHO SỐ LIỆU RỜI RẠC VÀ THAM SỐ RỜI RẠC([1], Trang 45 - 48) Cho X1 , ., Xn là n đại lượng ngẫu nhiên độc lập với nhau và có cùng phân phối xác suất, có hàm khối xác suất f (x|Θ = θ). Cho Θ là một biến ngẫu nhiên rời rạc chưa biết và không quan sát được có thể nhận các giá trị θ1 ,.
Bạn đang quan tâm đến các cơ hội mà Θ = θ. Định lý Bayes trong tình huống này khẳng định rằng f (x1 |θ).f (xn |θi )g(θi ) i=1 h biểu thị hàm khối xác suất hậu nghiệm của Θ, và g biểu thị hàm khối xác suất tiền nghiệm của Θ. Chúng ta giả định, mẫu số trong công thức (1.1 Giải thích của định lý Bayes cho số liệu rời rạc và tham số rời rạc Lưu ý đầu tiên của chúng ta là: Giả định, X và Θ có phân phối xác suất rời rạc. Xi s là kết quả số liệu trong một thử nghiệm đang thực hiện để đưa ra thông tin về Θ.
Mẫu số trong phương trình (1.3) là một hằng số phụ thuộc vào số liệu X và không phụ thuộc vào θ. Do đó, phương trình (1.3) có thể được viết tương đương h(θ|x1 , .4) ở đây c là hằng số tỉ lệ, và ∝ biểu thị tỉ lệ. Hằng số c luôn luôn được tái tạo bởi vì nó phải được định nghĩa để p X n X P {Θ = θi |x1 , .5) i=1 i=1 Trong công thức (1.f (xn |θ) thường được xem như là các hàm hợp lý cho số liệu. Định lý Bayes cho số liệu rời rạc và tham số rời rạc được đưa ra trong phương trình (1.4) khẳng định rằng: hàm khối xác suất hậu nghiệm của Θ tỉ lệ thuận với tích hàm hợp lý và hàm khối xác suất tiền nghiệm.
Hơn nữa, các số liệu Xi không cần phải độc lập với nhau. Chúng có mối tương quan trong quá trình ngẫu nhiên. Tuy nhiên, phương trình (1.4) có thể được sửa đổi bằng cách thay đổi các khả năng mẫu f (x1 ,. Nguyễn Huỳnh Tân - Cao học khóa 2013.
Trang 9 Trang 10 Luận văn thạc sĩ 1.2 Định lý Bayes cho số liệu rời rạc và mô hình rời rạc Giả sử bạn muốn so sánh một số mô hình, M1 , M2 , ., MK để xem mô hình nào bạn tin vào nhất. Để có thể giải thích một hiện tượng quan sát cho một mô hình trong số các mô hình được kiểm tra. Bạn có số liệu của mỗi mô hình cho dù đó là mô hình thích hợp hay không thích hợp. Bạn lấy số số liệu có được khi thực hiện một thử nghiệm và so sánh số liệu hậu nghiệm mỗi mô hình.
Định lý Bayes cho một số rời rạc của các mô hình được cho bởi f (x|Mi )P {Mi } P {Mi |X = x} = k , (1. Ở đây, f (x|Mi ) biểu thị khả năng của các số liệu rời rạc theo mô hình Mi , khả năng kết hợp sẽ là một hàm khối xác suất.4 ĐỊNH LÝ BAYES CHO SỐ LIỆU LIÊN TỤC VÀ THAM SỐ RỜI RẠC([1], Trang 48 - 49) Giả sử X là một quan sát, biến ngẫu nhiên hoàn toàn liên tục với hàm mật độ xác suất f (x|θ), Θ là ẩn, không quan sát, tham số rời rạc là chỉ số phân phối của X với Θ là hàm khối xác suất tiền nghiệm g(θ). Trong trường hợp này, định lý Bayes khẳng định rằng hàm khối xác suất hậu nghiệm cho θ được cho bởi L(x1 , ., xn |θ) biểu thị hàm hợp cho θ. Một cách tương đương, h(θ|x) ∝ L(x1 , .1 Giải thích định lý Bayes cho số liệu liên tục và tham số rời rạc Các số liệu có thể là đa chiều, chúng có thể phụ thuộc lẫn nhau, θ có thể là đa chiều, nhưng các số liệu liên tục và mẫu số trong công thức (1.
Nguyễn Huỳnh Tân - Cao học khóa 2013. Trang 10 Luận văn thạc sĩ - Chuyên ngành Toán Ứng Dụng Trang 11 1.5 ĐỊNH LÝ BAYES CHO SỐ LIỆU RỜI RẠC VÀ THAM SỐ LIÊN TỤC([1], Trang 50 - 53) Định lý Bayes cho số liệu rời rạc và tham số liên tục θ với hàm mật độ xác suất g(θ) cho từ công thức: L(x1 , ., xn |θ)g(θ)dθ hàm hợp lý cho số liệu L(x1 , ., xn |θ) là một hàm khối xác suất tiền nghiệm, g(θ) là một hàm mật độ xác suất, phân phối hậu nghiệm là các tiến trình liên tục để h là một hàm mật độ xác suất.2 quản lý chất lượng trong sản xuất Công ty RAMM sản xuất RAM (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên) cho các máy tính cá nhân. RAM được sản xuất với sản lượng hàng trăm ngàn mỗi tháng. Nhưng công ty RAMM vô cùng lo ngại về chất lượng của sản phẩm của họ, họ muốn đảm bảo uy tín và lợi nhuận của công ty.
Công ty thu thập ngẫu nhiên ba sản phẩm và hai lỗi được tìm thấy. Bây giờ công ty RAMM tin gì về tỉ lệ hiện tại sản phẩm bị lỗi (tương đương, phân phối hậu nghiệm cho θ là gì)? Trong vấn đề này, các số liệu rời rạc được giả định theo một phân phối nhị thức với tham số θ, với số lần thành công r = 2 (một lỗi được tìm thấy như là một thành công) trong số n = 3 phép thử. Vì vậy, khả năng được cho bởi 3 L(θ) = θ2 (1 − θ) 2 Bây giờ, chúng ta chấp nhận θ, xác suất của một sản phẩm bộ nhớ RAM bị lỗi là một tham số liên tục, với 0 ≤ θ ≤ 1. Trong ví dụ này, ba sản phẩm được lựa chọn để kiểm định và hai lỗi đã được tìm thấy.
Các khả năng vẫn là hai, nhưng bây giờ θ không còn bị giới hạn chỉ trong ba giá trị. Bây giờ chúng ta phải chọn một phân phối tiền nghiệm cho θ. Trường hợp 1: Đồng nhất tiền nghiệm. Giả sử không có hồ sơ lưu giữ về tỉ lệ sản phẩm bị lỗi trước đó.
Do đó, chúng ta không có ý tưởng cho dù hàng loạt sản phẩm của chúng ta Nguyễn Huỳnh Tân - Cao học khóa 2013. Trang 11 Trang 12 Luận văn thạc sĩ tất cả điều là hoàn hảo, tất cả bị lỗi, hoặc trường hợp khác.