Chương 1: Quá trình du nhập và phát triển ở Phật giáo đến Cham Pa từ thế kỷ III đến thế kỷ X Chương 2: Ảnh hưởng của Phật giáo đến Champa 5 NỘI DUNG Chƣơng 1 QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN CHAMPA TỪ THẾ KỶ III ĐẾN THẾ KỶ X 1.Bối cảnh lịch sử 1. Ảnh hƣởng của Phật giáo Ấn Độ 1.Sự phát triển của Phật giáo Ấn Độ “Đức Phật nhập cõi Niết bàn (Nirvana) vào khoảng năm 480 trước Công Nguyên và đạo lý của Ngài bắt đầu được truyền bá trong cùng khu vực sông Hằng (Gangze)” [8; tr. “Từ đầu thế kỷ III đến thế kỷ II trước công nguyên, đạo Phật đã thịnh hành khắp Ấn Độ, việc truyền bá Phật giáo được đẩy mạnh một cách mãnh liệt dưới thời A Dục hoàng đế (Asoka), một nhà vua mộ đạo, và dưới thời của tứ hoàng Krishna. Tuy nhiên, Phật giáo đạt đến đỉnh cao thịnh vượng ở Ấn Độ là vào thế kỉ thứ VII, rồi phải suy tàn bởi cuộc xâm lăng tàn khốc của người Hồi giáo (Muslim) vào thế kỷ thứ XIII”.
Khóa luận luật học “Phật giáo cũng đã trải qua nhiều một vài cuộc phân liệt. Nhưng cuộc phân liệt lớn nhất xảy ra vào thế kỷ thứ I sau công nguyên. Lúc ấy, bị chia thành hai giáo phái lớn nhất của Phật giáo đó là phái Bắc tông và phái Nam tông. Phái Nam tông sau này thịnh hành ở vùng Nam Ấn Độ, về kinh tạng và lối tu hành còn giữ nhiều quy chuẩn nguyên thủy của Phật giáo, nên gọi là Phật giáo Nguyên Thủy.
Phái này hiện thịnh hành ở Tích Lan, Xiêm, Miến Điện, Cao Miên, Ai Lao và một số tỉnh miền Nam Việt Nam, nơi có người khowmer sinh sống”. Phái Bắc tông vốn trước đây thịnh hành ở phía Bắc Ấn Độ và được cải biến rất nhiều. Phái này sau truyền sang các quốc gia như Nepal, Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Triểu Tiên, Nhật Bản và sau này cả ở Việt Nam. Về nghệ thuật điêu khắc tượng Đức Phật và các vị Bồ Tát.
Dựa trên những công trình có tính chất địa phương từ xưa bao trùm lên toàn bộ nền văn hóa Á Đông của Châu Á. 6 Từ sự phát triển đó mà Phật giáo lan rộng ra khắp các khu vực lân cận của mình và đặc biệt là đến khu vực Đông Nam Á nơi đó có rất nhiều vương quốc đang phát triển. Phân liệt ra hai trường phái Nam Tông và Bắc Tông cũng tạo nên sự khác biệt về Phật giáo khi du nhập đến những quốc gia khác. Hơn thế nữa khi đi vào các quốc gia khác họ lại cải biến hoặc kết hợp với yếu tố truyền thống vì thế mà ở mỗi quốc gia Phật giáo vẫn có những nét chung và cả những nét riêng như ở Đại Việt, Champa, Miến Điện,.
Con đường du nhập của Phật giáo Ấn Độ đến Đông Nam Á và Champa “Ở Đông Nam Á, Phật giáo đã tỏa rộng ảnh hưởng nhanh chóng và đầy tính thuyết phục của mình qua tuyến thương mại biển”: “Trong bối cảnh Ấn Độ, câu hỏi đặt ra cũng là một cách giải thích sự bành trướng hệ thống thương mại chưa từng thấy trong thời sơ sử. Thời kỳ hậu Mauryan được ghi nhận bởi sự tăng lên về mặt số lượng các trung tâm đô thị và của cảng ở bán đảo Ấn Độ; với một vùng duyên hại mở rộng, mạng lưới trao đổi ven biển và thương mại từ rất lâu thường được xem như chất xúc tác trong sự thay đổi xã Khóa luận luật học hội” [14; tr. “Vương quốc Champa xưa là một quốc gia cổ thuộc khu vực Đông Nam Á. Khu vực Đông Nam Á nhất là bán đảo Đông Dương được xem như vùng “đệm” giữa hai nền văn minh lớn của nhân loại đó là Trung Quốc và Ấn Độ.
Do đó nó là con đường để đi đến nhiều nơi, và là nơi gặp nhau của nhiều nền văn minh lớn như Trung Hoa, Ấn Độ, Java,. Vì vậy mà nơi đây được coi là điểm hội tụ của nhiều nền văn minh lớn trong đó có Ấn Độ”. Do nằm ở vị trí địa lý thuận lợi bên bờ biển Đông, do có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú mà Ấn Độ thời cổ cần, nên ngay những thế kỷ đầu công nguyên, những thương nhân Ấn, trên đường tìm hương liệu và vàng, đã đặt lên vùng đất ven biển miền Trung Việt Nam mà sau này nơi đó trở thành vương quốc cổ Champa. Dù cho đến nay, chưa tìm thấy dấu tích nào chứng tỏ về những trung tâm mua bán của người Ấn ở Champa, nhưng có thể là những cảng lớn của Champa như Chiêm cảng (gần cửa Hội An), Châu Sa (Quảng Ngãi), Thị Nại (Quy Nhơn), Nha Trang (tên xưa là Kauthara), 7 Panduranga (Phan Rang).
là những địa điểm tốt để những thương nhân người Ấn ở những trung tâm mua bán sầm uất. Ngoài ra, để giao lưu buôn bán mà có thể các nhà buôn Ấn đã phải lấy người con gái bản xứ để có thể giao tiếp vì không có người phiên dịch và cũng như truyền bá một số nghi thức của họ để tiện việc phát triển buôn bán sau này. Theo các nhà nghiên cứu, ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ đến Đông Nam Á nói chung và Champa nói riêng chủ yếu là sự bành trướng của một nền văn hóa có tổ chức, dựa trên quan điểm của Ấn Độ về vương quyền mà tiêu biểu là Ấn Độ giáo và Phật Giáo. “Người Ấn không hề tiến hành ở Champa một cuộc xâm lược vũ trang nào và cũng không hề thôn tính tên tuổi của một quốc gia hoặc một đô thị nào.
Các vương quốc “Ấn Độ hóa” chỉ có những quan hệ về mặt truyền thống với các triều vua Ấn Độ mà không lệ thuộc về chính trị. Điều này khác hẳn sự bành trướng bằng bạo lực, bằng chinh phục của người Trung Hoa. Vì thế những nước mà Ấn Độ chinh phục bằng cách hòa bình và bằng những ảnh hưởng văn hóa vẫn duy trì được bản Khóa luận luật học chất của mình và phát huy nó lên. Và điển hình cho sự ảnh hưởng này là Champa” [11; tr.
Con đường truyền bá Phật giáo đến các vương quốc cổ ở Đông Nam Á trong đó có Champa đã hình thành rất sớm từ những thế kỷ đầu theo Tây lịch. Các triều đại trong lịch sử những tiểu quốc Champa đã tiếp nhận được rất nhiều Phật giáo bằng nhiều con đường khác nhau và theo mức độ khác nhau. Người dân Champa phần lớn là những cư dân nghề ven biển họ có sự nhanh nhạy trong tư duy họ du nhập những cái điều mới mẻ và không bị gò bó vào cuộc sống của mình chỉ muốn hòa nhập với thiên nhiên con người với một cuộc sống ổn định. Phật giáo của Ấn Độ đến họ có những thay đổi cho mình.
Sự phát triển của Champa từ thế kỷ III đến thế kỷ X Trong thời kì mà Phật giáo Ấn Độ đến và ảnh hưởng của Phật giáo đi sâu và trong dân gian cũng chính nhờ vào những vương triều cai trị lúc đó. Những vương triều lớn có mối quan hệ rất tốt với Ấn Độ và rồi từ đó ảnh hưởng đến tín ngưỡng tôn giáo của vương quốc mình. 8 “Vương triều Gangaragia (cuối thế kỷ II- đầu thế kỷ VIII). Đặt kinh đô ở Trà Kiệu (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam): Sự cống hiến của vương triều với vương quốc Champa trong một thời gian chừng 5 thế kỉ có vẻ là không nhiều, nhưng rất căn bản: với sự thống nhất bước đầu, gồm miền Bắc, miền Trung và một phần Nam Chăm, Nam đèo cả”.
“Quan hệ Champa với Trung Hoa rất thưa thớt và không mang tính thương mại. Những thuyền buôn rẽ qua ờ biển Champa để tiếp thêm lương thực, nước ngọt cho những chuyến đi dài ngày, hoặc cao hơn là đổi lấy trầm hương, dấu vết chỉ được tìm thấy trong gốm”. “Việc trao đổi sản phẩm qua lại vẫn được tiếp tục trong giai đoạn vương triều Sinhapura. Nhưng có thể khẳng định sự trao đổi kinh tế cũng như văn hóa giữa Champa và Trung Hoa vào giai đoạn vương triều Sinhapura chính thống cũng mờ nhạt.
Đáng kể là những xung đột về chính trị lãnh thổ. Trung Hoa muốn thiết lập ảnh hưởng của mình ở Champa theo kiểu dô hộ trực tiếp nhưng đã không thành”. Có thể khẳng định: “Nơi nào đó trong khu vực Đông Nam Á mà người Hán không xâm chiếm được và đặt ách đô hộ được thì ở nơi đó văn hóa Khóa luận luật học Trung Hoa khó được chấp nhận và lựa chọn. Champa là một trong những trường hợp.
Họ tiếp nhận văn hóa Ấn trên cơ sở hội nhập văn hóa Nam Chăm. Và ngay trong giai đoạn đầu lập quốc, văn hóa Ấn Độ đã lan tỏa và ảnh hưởng một cách sâu sắc” [1; tr. Quan hệ Champa với Ấn Độ theo G.Coedes cho rằng: “Những chuyến thuyền buôn của Ấn Độ xuất phát từ bờ biển Coromande, nếu vậy các thuyền của Ấn Độ muốn đi vào vùng vịnh Thái Lan và bờ biển Nam Việt Nam, những con đường đó phải đi qua hai tuyến đường chính: Hoặc qua eo biển Malacca hay Sunda, Lombok; hoặc băng qua bán đảo Malaya và các đảo Indonesia là những nơi có sự hiện diện sớm nhất của văn hóa Ấn Độ, nhưng ở đây trước thế kỷ IV lại thấy rất mờ nhạt. Trong khi đó lại thấy rất sớm và phổ biến ở Phù Nam, Champa những quốc gia cổ đại đầu tiên ở phía Nam Việt Nam, và cũng là những quốc gia cổ đại sớm nhất ở Đông Nam Á.
Vương triều Sinhapura mang nhiều yếu tố Hindu trong quá trình phát triển của mình” [10; tr. 9 Vương triều Panddurranga (giữa thế kỷ VIII- giữa thế kỷ IX), kinh đô đặt chủ yếu tại Phan Rang (Ninh Thuận), nhưng Nha Trang (Khánh Hòa) là nơi thờ tự của đất nước từ năm 750-850. Sau Vikarantarman II, đã xảy ra một biến động lớn về chính trị, Tân Đường thư (Q 222 Ha, 1b) cho biết: “Sau niên hiệu Chí Đức (tức Đường Minh Hoàng khoảng năm 756-758) [Lâm Ấp] đổi tên thành Hoàn Vương” [1; tr. “Lâm Ấp hay Hoàn Vương đều chỉ Champa.
Trên thực tế người Chăm luôn tự gọi mình là vua Champa. Bia của Indravarman I còn khẳng định ông” “Cai quản toàn bộ Champa” [8; tr. Vương triều thứ hai đóng đô ở miền Nam, tên kinh đô được biết đến qua bia kí là Virapura (trong vùng Paduranga, tên chỉ vùng Nam Chăm, xuất hiện trong bia Po Nagar thế kỷ VIII). Cũng trong bia của Indravarman I kể trên còn cung cấp cho ta biết phổ hệ của vương triều này, có 6 đời vua bắt đầu từ năm 749 kết thúc năm 854.
“Kauthara là nơi có thánh địa Po Nagar và là trung tâm quần cư quan trọng nhất của miền Nam Chăm cho đến đầu vương triều II.