CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨUVÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu Vốn là yếu tố quan trọng trong kinh doanh, giúp cho những ý tưởng kinh doanh thành hiện thực. Trên thương trường các nhà quản lý cần có được những cách thức huy động vốn phù hợp từ nhiều nguồn khác nhau cũng như cần sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả. Vốn và hiệu quả sử dụng vốn được đề cập đến trong nhiều bài báo, công trình nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu nhiều bài báo và công trình nghiên cứu khoa học, tác giả nhận thấy một số công trình nghiên cứu khoa học đã viết từ nhiều năm trước theo cơ sở lý luận cũ, một số bài báo và công trình nghiên cứu khoa học phân tích đơn lẻ vốn cố định hoặc vốn lưu động và không có sự so sánh với trung bình ngành cũng như các doanh nghiệp cùng ngành, một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập tới các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhưng chưa gắn chặt với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,… - Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Minh Tâm (1999), Phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong ngành công nghiệp dệt may Việt Nam; Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thị Chanh (2002), Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty công trình giao thông 208 thuộc Tổng giao thông 4 – Bộ giao thông vận tải; Luận văn tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hằng (2006), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng Ba Vì: Những đề tài này đã được thực hiện từ giai đoạn năm 1999-2006, đến nay đã có nhiều thay đổi cả về cơ sở lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải có những nghiên cứu khác cập nhật những thay đổi này. - Bài báo đăng Tạp chí Tài chính số 10-2012 của Tiến sỹ Hoàng Thị Thu, Nguyễn Hải Hành (2012), về nâng cao hiệu quả vốn lưu động của các 5 doanh nghiệp tại khu công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên; Luận văn tốt nghiệp của tác giả Phùng Thị Kim Duyên (2010), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty cổ phần Điện tử và truyền hình cáp Việt Nam: Những đề tài này tập trung phân tích riêng lẻ vốn cố định và vốn lưu động nên chưa đánh giá được tổng thể về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Hà Thị Thanh Huyền (2012), Hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần liên doanh Tư vấn và xây dựng – COFEC; Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Vương Vinh (2013), Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Hamin Việt Nam: Các đề tài đã hệ thống được các chỉ tiêu cần thiết để phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng như phân tích chi tiết các chỉ tiêu đánh giá này. Các đề tài này cũng đã kể đến các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, nhưng khi tìm kiếm nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại thì chỉ phân tích các nhân tố này một cách chung chung, sơ sài nên các chưa thực sự chỉ ra nguyên nhân sâu xa của hạn chế trong việc quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Đàm Trà My (2009), Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà; Luận văn thạc sỹ của tác giả Lương Xuân Trường (2012), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Sông Đà 9. Các đề tài nghiên cứu này đã nêu được các chỉ tiêu cơ bản và cần thiết cho hoạt động phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, đã phân tích cụ thể tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp, tìm ra những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra còn chung chung và chưa thực sự gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để khắc phục những hạn chế. 6 - Một vài đề tài khác cũng nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty CP Sông Đà 2 nhưng được nghiên cứu từ những năm trước, trong giai đoạn nền kinh tế chưa có nhiều biến động như những năm gần đây.
Các đề tài này chỉ nghiên cứu đơn thuần Công ty CP Sông Đà 2, chưa có sự so sánh với các đơn vị khác hoạt động trong cùng ngành cũng như so sánh với trung bình ngành. Việc phân tích thực trạng thường tách riêng phân tích vốn cố định và vốn lưu động, chưa chú trọng phân tích việc sử dụng các đòn bảy tài chính, … Như vậy, có thể nói các công trình nghiên cứu về vốn và hiệu quả sử dụng vốn là rất nhiều nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn của Công ty CP Sông Đà 2 trong giai đoạn (2012-2014) với cách tiếp cận mới về mặt lý thuyết (cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh) cũng như phân tích thực trạng với những điểm mới như: tập trung phân tích về cơ cấu nguồn vốn, chú ý sử dụng đòn bẩy tài chính trong phân tích; so sánh số liệu với một số công ty hoạt động cùng ngành trong nội bộ khối Sông Đà và một số công ty khác đồng quy mô trong cùng ngành xây dựng, đồng thời so sánh với trung bình ngành nhằm đánh giá một cách trung thực và chính xác, tìm ra những mặt đã làm được và những hạn chế còn tồn tạitrong việc quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, tìm ra nguyên nhân sâu xa của những hạn chế;các giải pháp đưa ra bám sát với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, khắc phục những hạn chế của Công ty CP Sông Đà 2 trong việc quản lý, sử dụng vốn kinh doanh. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm vốn 7 - Theo quan điểm của Marx, vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất. - Theo lý thuyết cổ điển, vốn là một trong các yếu tố đầu vào để sử dụng kinh doanh. - Theo các nhà kinh tế học hiện đại, vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. - Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được quan niệm là toàn bộ những giá trị ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp.
Khái niệm vốn kinh doanh Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đều phải có các yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Trong nền kinh tế thị trường, để có được các yếu tố đó các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp. Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm, hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói vốn kinh doanh là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nói cách khác, đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đặc điểm của vốn kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Vận động không ngừng, chuyển đổi hình thái biểu hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh. Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa và cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. 8 Là một loại hàng hóa đặc biệt.
Các doanh nghiệp có thể khai thác, huy động trên thị trường tài chính. Là biểu hiện bằng tiền của các tài sản nhất định (cả tài sản hữu hình và vô hình) mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào kinh doanh. Luôn gắn với một chủ sở hữu nhất định. Các doanh nghiệp không thể mua bán quyền sở hữu vốn mà chỉ có thể mua bán quyền sử dụng vốn kinh doanh trên thị trường tài chính.
Luôn có giá trị theo thời gian. Một đồng vốn kinh doanh hiện tại sẽ có giá trị kinh tế khác với một đồng vốn kinh doanh trong tương lai và ngược lại. Vai trò của vốn kinh doanh Trong cơ chế thị trường vốn kinh doanh có tầm quan trọng đặc biệt. Đồng thời, nền kinh tế thị trường thực sự là môi trường để cho vốn kinh doanh bộc lộ và phát huy vai trò của nó.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn đóng vai trò đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi theo mục tiêu đã định. Nó là một trong các yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất: vốn, sức lao động, tài nguyên và kỹ thuật công nghệ. Tuy nhiên khi có vốn doanh nghiệp có thể sử dụng để mua tài nguyên và công nghệ, thuê lao động. Vì vậy vốn được coi là yếu tố quan trọng nhất để tiến hành sản xuất kinh doanh.
Vốn kinh doanh giúp các doanh nghiệp hoạt động liên tục, có hiệu quả. Tương ứng với mỗi quy mô sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn này thể hiện nhu cầu thường xuyên mà doanh nghiệp cần có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, tránh gián đoạn. Nếu doanh nghiệp thiếu vốn, quá trình sản xuất sẽ bị đình trệ, không đảm bảo được hợp đồng đã ký với khách hàng… dẫn đến bị mất thị phần, mất khách hàng, doanh thu và lợi nhuận giảm sút và các mục tiêu khác đề ra không thực hiện được.
9 Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có tiềm năng, lợi thế riêng có của mình. Nhưng dù có lợi thế nào đi chăng nữa nhưng không có vốn, thiếu vốn thì doanh nghiệp không thể sử dụng và phát huy tối đa tiềm năng lợi thế đó để phục vụ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh.