CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM 1.1 Khái niệm nhãn hiệu và bảo hộ nhãn hiệu 1. Khái niệm nhãn hiệu theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO Theo quyển sách Những điều chưa biết về nhãn hiệu (Tài liệu hướng dẫn dành cho doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ) của tổ chức trí tuệ thế giới WIPO mục 18 thì “nhãn hiệu là dấu hiệu có khả năng phân biệt dùng để phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ do một doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp với những hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp khác. Nhìn chung, bất kỳ chữ cái, từ ngữ, chữ số, hình vẽ, màu sắc, hình ảnh, sự sắp đặt, tiêu đề quảng cáo, nhãn hàng hoặc sự kết hợp của các dấu hiệu kể trên được sử dụng để phân biệt hàng hoá và dịch vụ của các công ty khác nhau có thể được coi là nhãn hiệu. Khái niệm nhãn hiệu theo quy định của các quốc gia khác 1.
Khái niệm nhãn hiệu theo luật Nhật Bản Pháp luật hiện hành của Nhật Bản về nhãn hiệu là Đạo luật về Nhãn hiệu (Trademark Act) ban hành vào năm 1959 và được sửa đổi lần mới nhất vào năm 2015. Pháp luật Nhật Bản quy định về nhãn hiệu có thiên hướng nghiên về truyền thống. Nhật Bản quy định nhãn hiệu là các chữ cái, con số, dấu hiệu, hình hoạ ba chiều hay sự kết hợp giữa chung giữa chúng có thể là màu sắc và phải thoả mãn hai điều kiện do pháp luật Nhật Bản đề ra. Thứ nhất, đối với nhãn hiệu gắn lên hàng hoá thì phải được sử dụng đối với hàng hoá mà một cá nhân sản xuất, xác nhận hay đem vào lưu thông.
Thứ hai, đối với nhãn hiệu dịch vụ phải được sử dụng đối với dịch vụ mà một cá nhân cung cấp hay xác nhận trong quá trình thương mại. Khái niệm nhãn hiệu theo Luật Mỹ Các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu của Mỹ được điều chỉnh bởi Đạo luật Lanham (Lanham Act) - Luật về Nhãn hiệu ban hành năm 1946 và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần trong quá trình áp dụng. Trong luật này có hai quy phạm liên quan đến định nghĩa về nhãn hiệu. Phần định nghĩa của Luật này quy định: Thuật ngữ nhãn hiệu bao gồm bất cứ từ, tên gọi, biểu tượng, hay hình vẽ, hoặc sự kết hợp giữa chúng được sử dụng bởi một cá nhân hoặc được một cá nhân có ý định sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này hoặc để xác định và phân biệt hàng hoá của cá nhân đó, bao gồm cả các hàng hoá đặc chủng, với những hàng hoá cùng loại được sản xuất hoặc được bán bởi cá nhân khác và chỉ rõ nguồn gốc của hàng hoá thậm chí khi mà không thể xác định được nguồn gốc đó.
Nhãn hiệu hàng hoá được cấu thành QC20-B18 bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người với hàng hoá hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hoá hoặc hình dạng của bao bì hàng hoá. Nhãn hiệu hàng hoá bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Theo quy định của pháp luật Mỹ, các yếu tố được công nhận trong khái niệm nhãn hiệu chỉ bao gồm những yếu tố truyền thống như tên gọi, biểu tượng, hình vẽ hay sự kết hợp giữa chúng mà thôi. Các yếu tố mới không mang tính truyền thống nhưng vẫn có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác nhau như âm thanh hay mùi chưa được nêu trong định nghĩa.
Tuy nhiên, do sự phát triển của nền kinh tế, Mỹ là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giớ công nhận và cho đăng ký các nhãn hiệu chứa đựng các yếu tố mới này. Điều 2 Luật Nhãn hiệu năm 1946 của Mỹ quy định: “Không nhãn hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá của người nộp đơn với những hàng hoá của những người khác lại bị từ chối đăng ký vào sổ đăng ký…” Theo điều khoản này thì bất kỳ dấu hiệu nào, không phân biệt định hình hay không định hình nếu có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp thì đều có thể được coi là nhãn hiệu. Khái niệm nhãn hiệu theo quy định pháp luật Việt Nam Hiện nay, các vấn liên quan đến đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 – sửa đổi năm 2009) và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Điều 4 khoản 16 Luật Sở hữu trs tuệ 2005 quy định: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
Quy định này nhấn mạnh đến chức năng và mục đích của nhãn hiệu. Theo Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ quy định nhãn hiệu “là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc” và “có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác”. Đây là một khái niệm mang tính khái quát và phù hợp với thực tiễn cũng như quy định của các điều ước quốc tế. Điều này được thể hiện qua một số điểm sau: Thứ nhất là “nhãn hiệu” dùng để chỉ những dấu hiệu phân biệt hàng hóa, dịch vụ.
Thứ hai là khái niệm đã xác định chức năng của nhãn hiệu là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam Theo nghĩa rộng, Bảo hộ Nhãn hiệu là hoạt động của nhà nước, của chủ sở hữu và toàn thể xã hội hướng tới việc bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu. Theo nghĩa hẹp thì bảo hộ nhãn hiệu là việc nhà nước – thông qua hệ thống QC20-B18 pháp luật ghi nhận quyền sở hữu đối với nhãn hiệu cho các cá nhân, tổ chức và bảo vệ các quyền đó chống lại sự vi phạm của bên thứ ba. Bảo hộ nhãn hiệu có ý nghĩa rất quan trong trong thực tiễn, đây là chế tài bảo vệ nhãn hiệu cho chủ sở hữu và lợi ích cho người tiêu dùng và là cơ sở tạo điều kiện phát triển kinh tế.
Vậy Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu là sự tác động bằng pháp luật thông qua việc sử dụng các biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự,… nhằm ngăn chặn, chống lại những hành vi xâm phạm để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hợp pháp đã được Nhà nước công nhận bảo hộ. Phân loại nhãn hiệu 1. Phân loại nhãn hiệu theo yếu tố cấu thành nhãn hiệu Dựa theo yếu tố cấu thành nhãn hiệu thì nhãn hiệu được chia thành nhãn hiệu chữ, nhãn hiệu hình ( hay còn gọi là nhãn hiệu logo) và nhãn hiệu kết hợp. Nhãn hiệu chữ: bao gồm các chữ cái (có thể kèm theo cả chữ số), từ (có nghĩa hoặc không có nghĩa; có thể là tên gọi, từ tự đặt,…), ngữ (một cụm từ, có thể là một khẩu hiệu trong kinh doanh),… ví dụ như Coca Cola, Google,… Nhãn hiệu hình: bao gồm hình vẽ, ảnh chụp, biểu tượng, hình khối (hình không gian ba chiều),…Ví dụ như Iphone, Toyota, Mercedes,… QC20-B18 Nhãn hiệu kết hợp là sự kết hợp cả từ ngữ và hình ảnh.
Ví dụ như Nike, Puma, Vinamilk,… Những loại nhãn hiệu này có thể được thể hiện đen trắng hoặc kết hợp cả màu sắc. Phân loại nhãn hiệu theo chức năng của nhãn hiệu Dựa theo chức năng của nhãn hiệu thì nhãn hiệu được phân thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu nổi tiếng. Nhãn hiệu hàng hoá là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa của các cá nhân, tổ chức kinh doanh khác nhau nhằm mục đích cho biết ai là người sản xuất ra những loại hàng hóa đó chứ không phải hàng hóa đó là gì. Các nhãn hiệu mang tính chất mô tả, có sự liên quan hoặc là tên gọi của sản phẩm thì nhãn hiệu đó sẽ không có khả năng đăng ký.
Ví dụ như Adidas, Hoka,… QC20-B18 Nhãn hiệu dịch vụ rất giống với nhãn hiệu hàng hoá về bản chất. Cả hai đều là dấu hiệu có khả năng phân biệt. Nhãn hiệu dịch vụ phân biệt dịch vụ của doanh nghiệp này với dịch vụ của doanh nghiệp khác. Nhãn hiệu dịch vụ thường được gắn trên các bảng hiệu dịch vụ để người có nhu cầu hưởng thụ có thể dễ dàng nhận biết.
Ví dụ như Mobifone, Viettel,… Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh khác không phải là thành viên của tổ chức đó ( khoản 17 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ). Nhãn hiệu tập thể thường thuộc sở hữu của một hiệp hội hoặc hợp tác xã mà các thành viên có thể sử dụng nhãn hiệu tập thể để tiếp thị các sản phẩm của mình. Hiệp hội đó thường xây dựng tập hợp các tiêu chuẩn về sử dụng nhãn hiệu tập thể (chẳng hạn tiêu chuẩn chất lượng ) và cho phép các thành viên sử dụng nhãn hiệu đó nếu họ đáp ứng các tiêu chuẩn đó. Nhãn hiệu tập thể có thể là xem như một hình thức liên kết hiệu quả trong việc tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của một nhóm doanh nghiệp.
Ví dụ như Chè Thái Nguyên, Xoài Cao Lãnh,… QC20-B18 Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép cá nhân, tổ chức khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, tổ chức đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.