Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP VỚI CHA MẸ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂN PHƯỚC KHÁNH, TX.TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Đối với con người, giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu được là điều kiện quyết định để biến con người sinh học thành con người xã hội, từ cá nhân trở thành nhân cách. Giao tiếp với tư cách là một vấn đề khoa học, là một vấn đề mới trong khoa học nói chung và trong tâm lý học nói riêng.
Từ thời cổ Hy Lạp có hai tác giả là Socrate (407 - 399TCN) và Platon (428 - 347 TCN) đã nói đến đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người. Vào thế kỷ XIX có một số nhà triết học như: L.Mac đã đề cập đến vấn đề giao tiếp.Phơbach (1804 - 1872) nhấn mạnh: Bản chất con người chỉ thể hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực giữa tôi và bạn.Mác (1818 - 1883) đã có tư tưởng về nhu cầu xã hội giữa con người và con người trong hoạt động xã hội và trên cùng xã hội con người phải thật sự giao tiếp với người khác. Nhưng đến thế kỷ XX vấn đề giao tiếp mới được nhiều nhà Triết học, Tâm lý học, Xã hội học quan tâm nghiên cứu như: G.Sactơ (1905 - 1981) hai nhà hiện sinh Pháp cùng Munie (1905 - 1950) đại diện cho triết học cá nhân.Vưgôtxki nghiên cứu vấn đề giao tiếp và được giới thiệu trong các Hội nghị tâm lý học: Hội nghị lần thứ nhất ở Lênin grat vào tháng 12 năm 1970. 5 Hội nghị lần thứ hai ở Lênin grat vào tháng 3 năm 1973 với vấn đề “Giao tiếp với tư cách là đối tượng của các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn”.
Hội nghị lần thứ 3 ở Ata vào tháng 9 năm 1973, tại hội nghị lần này đề cập đến một số vấn đề sau: Phương pháp luận và phương pháp giao tiếp; Các phương pháp và công cụ nghiên cứu giao tiếp; Cơ chế giao tiếp; Ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân đối với quá trình giao tiếp; Giao tiếp và lãnh đạo; Giao tiếp trong quần chúng; Mô hình hoá quá trình giao tiếp; Sự chệch hướng và vi phạm loại hình giao tiếp, những kết quả nghiên cứu về vấn đề giao tiếp ở hội nghị. Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu về giao tiếp dưới các góc độ khác nhau được tiến hành ở Liên xô như: A.Lêonchiev với tác phẩm “Tâm lý học giao tiếp” (1974) và “Giao tiếp sư phạm” (1979); I.Kôlôminxki với tác phẩm “Tâm lý học về các mối quan hệ tác động qua lại trong nhóm nhỏ” (1976); K.Platônôv với tác phẩm “Vấn đề giao tiếp trong tâm lý học” (1981); “Về bản chất giao tiếp người” của Xacốpnhin (1973); “Giao tiếp là vấn đề của tâm lý học đại cương” của B.Lômôv (1975); “Hoạt động và giao tiếp” của tác giả A.Lêonchiev; “Giao tiếp sư phạm của người thầy giáo” của tác giả A.Secbacov; “Những khó khăn tâm lý của giao tiếp liên nhân cách” E.Sucanôva (1985); “Thế giới giao tiếp” của Kagan (1988) Có thể nói, ở Liên Xô giao tiếp đã trở thành ngành khoa học độc lập - Tâm lý học giao tiếp. Ở phương Tây, có một số tác giả cũng nghiên cứu về vấn đề này như: Năm 1956 có 3 tác giả người Mĩ là Johnson, L.Schalckamp đã viết cuốn “Giao tiếp”. Nội dung của cuốn sách đề cập đến các vấn đề: Mối quan hệ của kỹ năng giao tiếp với sự tiến bộ trong trường đại học của sinh viên, cách biểu lộ tình cảm, phát triển kỹ năng bình luận.
Năm 1960, tác giả Bavelas (Pháp) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc giao tiếp, đồng thời đưa ra các khái niệm “khoảng cách” được xác định như một số những mắt xích giao tiếp cần thiết để đưa thông điệp tới được người khác (đối tượng) bằng con đường ngắn nhất từ quan hệ chiếm hữu. 6 Khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng của giao tiếp, nhà tâm lý học (Pháp) Bateson đã phân biệt hai hệ thống giao tiếp chủ yếu là giao tiếp đối xứng và giao tiếp bổ sung. Theo ông, mọi giao tiếp đều biểu hiện ra ở một trong những phương thức ấy, nó có tính hệ thống khi thiết lập được sự bình đẳng hay sự tương hỗ, nó có tính bổ sung khi biểu hiện sự khác nhau. Một số tác giả như Stecxen (Pháp), M.E Acgyt, Toddthorne, Doris Wents (Mĩ) cũng có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về giao tiếp.
Như vậy, các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô và các nước phương Tây đều chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các vấn đề lí luận chung về giao tiếp (phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu giao tiếp, cấu trúc của giao tiếp, mối quan hệ giữa hoạt động và giao tiếp, giữa cá nhân và giao tiếp, các qui luật giao tiếp ), đồng thời cũng có những nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này. Nhưng trong khi tập trung nghiên cứu lí luận giao tiếp, các nhà khoa học cũng ít quan tâm nghiên cứu các khó khăn trong giao tiếp. Có thể nói, khó khăn tâm lý trong giao tiếp vẫn còn là một vấn đề ít được nghiên cứu trong tâm lý học giao tiếp. Tuy nhiên, vẫn có thể tìm thấy vấn đề này trong công trình nghiên cứu của một số tác giả, chẳng hạn, G.Andreeva khi phân tích chức năng thông tin của giao tiếp đã nhận thấy: Ở điều kiện trao đổi thông tin của con người, có thể xuất hiện những “bức rào” trở ngại tâm lý, tác giả đã nêu ra một vài nguyên nhân nảy sinh trở ngại tâm lý trong giao tiếp nhưng không đề cập đến nội hàm khái niệm này.Phorvec khi lý giải các chức năng của giao tiếp đã nêu ra các yếu tố gây khó khăn cho giao tiếp đó là: Người phát tin không có khái niệm chính xác về người cùng giao tiếp với mình; Người phát tin che dấu lí do thông tin hoặc những lí do đó không rõ đối với bản thân người phát tin, nên ý định của họ không được thực hiện; Do sự khác nhau của hoàn cảnh hoặc lập trường văn hoá xã hội; Trong giao tiếp gián tiếp, người phát tin không thể quan sát được thông báo của mình được người nhận lĩnh hội như thế nào, thông báo đó tác động như thế nào đến người nhận; Do khoảng cách quá lớn; Do cách kiến giải khác nhau về khái niệm sử dụng ở trao đổi thông tin tạo nên những “ hàng rào khái niệm” ngăn cách giao tiếp.
7 Như vậy, tác giả đã nêu ra một loạt các nhân tố gây khó khăn cho giao tiếp, nhưng cụ thể khó khăn giao tiếp là gì?. Cách phân loại nó ra sao?, thì công trình nghiên cứu này chưa đề cập đến. Một nhóm nghiên cứu khác là trường phái Palo Alto. Lí luận của trường phái này đề cập đến những hiện tượng của giao tiếp bằng cách làm sáng tỏ các quá trình tương tác của mọi ứng xử, điều đó cho phép rút ra một “lôgic” giao tiếp, bên cạnh đó họ cũng đề cập đến các chướng ngại gây ra sự rối loạn giao tiếp.
Tuy nhiên, bản chất của (chướng ngại là gì, tên gọi của nó ra sao?) thì trường phái này chưa đề cập đến.Sucanova viết cuốn: “Những khó khăn của giao tiếp liên nhân cách” trong đó tác giả đề cập đến các vấn đề. Vị trí của hiện tượng khó khăn giao tiếp trong cấu trúc của các vấn đề tâm lý xã hội. Những đặc điểm của việc nhận thức các nguyên nhân gây ra khó khăn trong giao tiếp công việc. Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố khó khăn đến quá trình giao tiếp công việc.
Như vậy khó khăn tâm lý trong giao tiếp là một vấn đề ít được nghiên cứu ở nước ngoài. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên đã cho thấy các tác giả cũng hướng đến một điểm chung là tìm hiểu nguyên nhân gây khó khăn tâm lý trong giao tiếp và đề xuất những biện pháp hạn chế. Một số nghiên cứu ở Việt Nam Tâm lý học là một khoa học non trẻ ở Việt nam. Vấn đề giao tiếp mới chỉ được đi sâu nghiên cứu từ những năm 70.
Việc nghiên cứu giao tiếp phát triển mạnh mẽ và đi theo nhiều xu hướng khác nhau, thể hiện trên các công trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn. Có thể điểm qua các công trình nghiên cứu sau: Tác giả Đỗ Long với bài viết “C.Mac và phạm trù giao tiếp” (1963); Tác giả Trần Trọng Thuỷ với bài “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981), “Giao tiếp, tâm lý, nhân cách”(1981), “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên sư phạm” (1985); Tác giả Bùi Văn Huệ với bài viết “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981). Những năm gần đây, một số 8 cuốn sách về giao tiếp sư phạm ra đời như: “Giao tiếp sư phạm” của tác giả Ngô Công Hoàn (1987), “Một số vấn đề tâm lý học về giao tiếp sư phạm” của Ngô Công Hoàn (1992); “Vấn đề giao tiếp” của Nguyễn Văn Lê (1998), “Giao tiếp ứng xử tuổi trăng tròn” của tác giả Lê Thị Bừng (2001). Tác giả Bùi Thị Thu Hằng với luận văn “Những khó khăn tâm lý trong giao tiếp với giáo viên của HS khiếm thính trường trung học tư thục Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa”.
Hội thảo khoa học “Những khó khăn tâm lý của HS THCS hiện nay”. Tác giả Nguyễn Văn Lê, dưới góc độ thông tin đã bàn đến khó khăn tâm lý trong giao tiếp như: Sự quá chênh lệch giữa người phát và người thu; Khả năng xây dựng và trình bày bản thông điệp của người phát thông tin; Tác giả cũng đưa ra các yếu tố tâm lý gây khó khăn trong giao tiếp như: Những chấn thương tình cảm, những sự khác nhau về chính kiến, những xung đột, những định kiến; Tác giả Lê Hương đã đi vào phân tích những khó khăn tâm lý trong công tác quản lý xí nghiệp của các nhà quản lí, chủ yếu thể hiện ở hai mặt: Nhu cầu và hoạt động. Tác giả còn đưa ra những số liệu thực tế để chứng minh cho những khó khăn tâm lý đó. Tác giả Huyền Phan viết bài “Những trở ngại tâm lý khi giao tiếp”.
Bài viết đã cho thấy, nhiều khi giao tiếp không đạt mục đích vì bị các trở ngại tâm lý ngăn cản.