Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 LƯỢC KHẢO CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG 2.1 Lược khảo các lý thuyết về hành vi và ý định hành vi Bao gồm các lý thuyết liên quan đến hành vi ý định mà các nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi như Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý của Smith (1776, trích trong Lê Ngọc Hùng, 2011), Lý thuyết hành động xã hội của Weber (Trích trong Lê Ngọc Hùng, 2014), Lý thuyết nhu cầu của Maslow, Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) (Ajzen & Fishbein, 1980; Fishbein & Ajzen, 1975), lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) (Ajzen,1989,1991), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Fred Davis, 1989), mô hình kết hợp TAM và TPB (C-TAM-TPB) (Taylor & Todd) để lý giải cho ý định tiêu dùng thực phẩm sơ chế của khách hàng.1 Hành vi Hành vi của con người: Hành vi của con người được cho là chịu ảnh hưởng của hệ thống nội tiết và hệ thần kinh. Người ta thường tin rằng sự phức tạp trong hành vi của một sinh vật có liên quan đến sự phức tạp của hệ thống thần kinh của nó. Thông thường, các sinh vật có hệ thần kinh phức tạp hơn có khả năng học hỏi các phản ứng mới và do đó điều chỉnh hành vi của chúng (Gregory &cs, 2015).
Hành vi của người tiêu dùng: Hành vi của người tiêu dùng đề cập đến các quá trình người tiêu dùng trải qua và các phản ứng mà họ có đối với các sản phẩm hoặc dịch vụ (Dowhan, 2013). Đó là liên quan đến tiêu dùng, và các quá trình người tiêu dùng trải qua mua, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ (Szwacka-Mokrzycka, 2015). Người tiêu dùng nhận ra nhu cầu hoặc mong muốn và trải qua một quá trình để thỏa mãn những nhu cầu này. Hành vi của người tiêu dùng là quá trình họ trải qua với tư cách là khách hàng, bao gồm các loại sản phẩm đã mua, số tiền chi tiêu, tần suất mua hàng và điều gì ảnh hưởng đến họ để đưa ra quyết định mua hàng hay không.
Có rất nhiều điều ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng, với sự đóng góp từ cả yếu tố bên trong và bên ngoài (Szwacka-Mokrzycka, 2015). Các yếu tố bên trong bao gồm thái độ, nhu cầu, động cơ, sở thích và quá trình nhận thức, trong khi các yếu tố bên ngoài bao gồm các hoạt động tiếp thị, các yếu tố kinh tế và xã hội và các khía cạnh văn hóa (Szwacka-Mokrzycka, 2015).2 Định nghĩa hành vi tiêu dùng Hành vi tiêu dùng là một quá trình liên tục bao gồm việc nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá và lựa chọn giải pháp, chọn lựa cửa hàng, mua sắm và quá trình sau mua sắm (Luodon & cs, 1993). Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ những sản phẩm/ dịch vụ. Nó bao gồm cả các quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động đó (Engel & cs, 2005).
Hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ (Kotler, 2000). Hành vi tiêu dùng là tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm, dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ (Solomon, 2006).3 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý Thuyết lựa chọn hợp lý giả định rằng tất cả mọi người cố gắng chủ động tối đa hóa lợi thế của họ trong mọi tình huống và do đó luôn cố gắng giảm thiểu tổn thất. Nói cách khác, đây là khái niệm cho rằng vì các tính toán hợp lí quyết định hành vi của con người, lí trí sẽ là động lực khi đưa ra lựa chọn để kết quả đạt được là tối đa hóa sự thoả mãn hoặc lợi nhuận của mỗi cá nhân. Homans diễn đạt định đề cơ bản của thuyết duy lý theo kiểu toán học như sau: khi chọn lựa một trong số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn lựa cách nào mà họ cho rằng tích xác suất thành công của hành động đó (ký hiệu là P) với giá trị mà phần thưởng của hành động đó (ký hiệu là V) lớn nhất: C = (P x V = Maximum).
Thuyết sự lựa chọn hợp lý của Alfred Marshall, một nhà chính trị - kinh tế người Anh, quan niệm như sau: Cá nhân bị nhu cầu tâm lý bên trong thúc đẩy phải hành động, những cái định hướng và dẫn dắt hành động lại là lợi ích của sự vật bên ngoài cá nhân. Các cá nhân chỉ tham gia vào quan hệ trao đổi những hàng hóa nào có lợi ích đối với họ.Marshall đưa ra quy luật lợi ích giảm dần cho biết khi nào hàng hóa không còn ích lợi nữa thì người ta cũng sẽ không tham gia vào quan hệ trao đổi nữa (Lê Ngọc Hùng, 2011, tr. 6 Sự trao đổi xã hội và mối quan hệ giữa các cá nhân thực chất là sự trao đổi lặp đi lặp lại giữa họ với nhau. Homans đưa ra một số định đề cơ bản về hành vi như sau: - Định đề phần thưởng: Đối với tất cả hành động của con người, hành động nào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng được lặp lại.
- Định đề kích thích: Nếu một kích thích nào trước đây đã từng khiến cho một hành động nào đấy được khen thưởng thì một kích thích mới càng giống với kích thích đó bao nhiêu thì càng có khả năng làm cho hành động trước đây lặp lại bấy nhiêu. - Định đề giá trị: Kết quả của hành động càng có giá trị trao đổi với chủ thể bao nhiêu thì chủ thể đó càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu. - Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào đó mà giá trị của kết quả hành động đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất. - Định đề suy giảm: Càng thường xuyên nhận được một phần thưởng nào đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu đối với chủ thể hành động.
- Định đề mong đợi: Nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì người ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng (Lê Ngọc Hùng, 2011. Sự lựa chọn duy lý chỉ hợp lý trên cơ sở đánh giá các yếu tố, các điều kiện khách quan của hành động từ phía bản thân chủ thể, từ góc độ chủ quan của người ra quyết định chứ khó có thể dựa vào những tính toán chính xác. Mặt khác, giá trị của kết quả, giá trị của phần thưởng và cả sự mong đợi của mỗi cá nhân bắt nguồn từ hệ chuẩn mực xã hội, từ phong tục, tập quán, truyền thống (Lê Ngọc Hùng, 2011, tr. Lý thuyết được vận dụng trong nghiên cứu này theo hướng các cá nhân đều cân nhắc, tính toán và suy nghĩ kĩ trước khi quyết định lựa chọn thực phẩm sơ chế.
Trong nghiên cứu này, lý thuyết được áp dụng cho thấy đối với khách hàng để đảm bảo sức khỏe, an toàn vệ sinh thực phẩm, sự tiện lợi cho bản thân và gia đình thì họ phải lựa chọn hợp lý từ khâu mua thực phẩm, lựa chọn thực phẩm sơ chế cho đến khâu chế biến. “Hợp lý” trong nghiên cứu này là việc khách hàng lựa chọn thực phẩm sơ chế phù hợp với kinh tế, thông tin về sản phẩm, nhu cầu và những loại thực phẩm sơ chế đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.4 Lý thuyết hành động xã hội Đối với việc nghiên cứu lối sống thì một trong những cơ sở lý luận nền tảng có thể kể đến là Hành động xã hội. Những cái tên tiêu biểu gắn liền với thuyết này như Pareto, Weber, Znanieski, Parson,. Điểm chung của họ là đều coi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ con người - xã hội, là cơ sở cho đời sống xã hội của con người.
Theo Weber, hành động xã hội là hành vi được chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nhất định. Một cách nói khác thì hành động xã hội là những hành động có ý thức, chủ thể hiểu được mình thực hiện hành động gì, thực hiện nó như thế nào, khác hẳn so với những hành động bản năng - sinh học. Đối chiếu với cách lựa chọn thực phẩm sơ chế, ta thấy cũng hoàn toàn không phải hành động bản năng - sinh học, đây còn là hành động có sự tham gia của ý thức, thể hiện ở sự lựa chọn của chủ thể (Khách hàng) về nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau. Trong quan hệ xã hội, con người phải thực hiện những hành động xã hội dựa trên những nguyên tắc thông hiểu là thấu hiểu tình huống hành động, động cơ, mục đích, phương tiện hành động trên cơ sở của tri thức kinh nghiệm.
Trong quá trình hành động, từ trong thế giới nội tâm, chủ thể không chỉ chịu tác động bởi các yếu tố duy lý mà còn có yếu tố phi lí như tình cảm, ý chí, cảm xúc. Do đó sự tách biệt và phân biệt giữa các yếu tố duy lý và phi lí rất khó khăn. Do đó, theo mô hình hành động xã hội của các nhà xã hội học đưa ra thì hành động xã hội gồm chủ thể, nhu cầu của chủ thể, hoàn cảnh hay môi trường của hành động. Trong đó, động cơ để thúc đẩy hành động, thỏa mãn nó đó là nhu cầu của chủ thể.
Và phương án được chủ thể lựa chọn thay đổi tùy theo hoàn cảnh, môi trường hành dộng. Từ đó chủ thể lựa chọn phương án tối ưu nhất cho mình. Trong nghiên cứu này, lý thuyết được vận dụng để giải thích cho ý định sử dụng thực phẩm an toàn là hành động tham gia của ý thức và có mục đích rõ ràng và cụ thể. Việc khách hàng là người dân thành phố Long Xuyên lựa chọn sử dụng thực phẩm sơ chế bao gồm: lựa chọn loại thực phẩm sơ chế, hình thức sơ chế, thực phẩm được sơ chế an toàn, lưu giữ và chế biến thực phẩm sơ chế như thế nào,… Hành vi lựa chọn tiêu dùng thực phẩm sơ chế là hành động xã hội, có mục đích và ý thức.