Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự phát triển của công nghiệp dược phẩm những năm qua đã làm thị trường thuốc mở rộng nhanh chóng về cả số lượng hoạt chất lẫn sự xuất hiện của nhiều dạng bào chế mới khác biệt so với các dạng kinh điển, dẫn đến những khó khăn nhất định cho cán bộ y tế trong quá trình chỉ định và kê đơn điều trị. Đồng thời, xu hướng phối hợp đa thuốc và áp dụng các phác đồ phức tạp làm tăng đáng kể nguy cơ xảy ra biến cố bất lợi của thuốc (ADR), tương tác thuốc, sự không tuân thủ điều trị của người bệnh và gánh nặng chi phí y tế. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và Internet, thông tin thuốc (TTT) ngày càng gia tăng về quy mô và mức độ chuyên sâu, tạo điều kiện cho người bệnh tiếp cận thông tin dễ dàng hơn nhưng cũng đặt ra yêu cầu thẩm định tính chuẩn xác từ phía chuyên môn.

Trong môi trường bệnh viện, nhu cầu TTT có sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm đối tượng: cán bộ y tế đòi hỏi các dữ liệu chuyên sâu (chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, tương tác, độc tính) để phục vụ quyết định lâm sàng; trong khi người bệnh ngoại trú cần các chỉ dẫn ngắn gọn, trực quan về cách dùng, thời gian uống và kỹ năng tự theo dõi triệu chứng. Tại Việt Nam, hoạt động TTT tại các cơ sở y tế phần lớn còn sơ khai, tập trung chủ yếu vào công tác cấp phát thuốc; hoạt động tư vấn còn hạn chế và thường bị lồng ghép chung với công tác dược lâm sàng mà chưa được chuyên biệt hóa, tạo áp lực công việc lớn cho người dược sĩ phụ trách.

Bệnh viện Quận 4 được thành lập từ năm 2007 và chính thức được nâng hạng từ bệnh viện Hạng III lên bệnh viện Hạng II vào tháng 4 năm 2014. Trước yêu cầu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ nhân dân trên địa bàn Quận 4 và các khu vực lân cận, khoa Dược bệnh viện đã xác định công tác TTT là một nhiệm vụ trọng tâm. Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ đại học của tác giả Huỳnh Phúc Diễm Hoàng (năm 2018) với đề tài "Khảo sát vai trò dược sĩ thông tin thuốc tại bệnh viện quận 4" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

  1. Mục tiêu 1: Khảo sát nhu cầu và mức độ ưu tiên về nội dung TTT của bệnh nhân ngoại trú đến khám tại Bệnh viện Quận 4.
  2. Mục tiêu 2: Khảo sát mức độ ưu tiên về nội dung TTT, nhu cầu của cán bộ y tế trong đáp ứng TTT tại Bệnh viện Quận 4.
  3. Mục tiêu 3: Đánh giá sơ bộ công tác TTT từ bệnh nhân và cán bộ y tế đối với khoa Dược Bệnh viện Quận 4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu 1: Bệnh nhân ngoại trú đã hoàn thành khám bệnh và lấy thuốc tại khu vực quầy thuốc của Bệnh viện Quận 4 trong thời gian từ ngày 15/07/2018 đến ngày 15/08/2018.
  • Đối tượng nghiên cứu 2: Cán bộ y tế (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý) đang công tác tại 11 khoa phòng thuộc Bệnh viện Quận 4 (bao gồm: Cấp cứu – Hồi sức tích cực – Chống độc, Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Y học cổ truyền, Dinh dưỡng tiết chế, Liên chuyên khoa Mắt – Tai mũi họng – Răng hàm mặt, Kiểm soát nhiễm khuẩn, Chẩn đoán hình ảnh, Xét nghiệm) trong thời gian từ ngày 16/08/2018 đến ngày 01/09/2018.
  • Không gian nghiên cứu: Bệnh viện Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và văn bản pháp lý

Nghiên cứu vận dụng hệ thống các khái niệm và văn bản quản lý nhà nước về hoạt động dược lâm sàng và thông tin thuốc:

  • Khái niệm "Thông tin thuốc" căn cứ theo Thông tư số 13/2009/TT-BYT của Bộ Y tế, xác định đây là hoạt động thu thập và cung cấp các dữ liệu liên quan đến thuốc (chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, tương tác, phản ứng có hại...) của đơn vị hoặc cá nhân có trách nhiệm nhằm phục vụ cán bộ hành nghề y dược và người sử dụng.
  • Phân loại nguồn thông tin thuốc thành ba cấp: nguồn cấp một (công trình nghiên cứu gốc, bài báo khoa học, khóa luận), nguồn cấp hai (các mục lục thư mục, hệ thống tóm tắt khoa học), và nguồn cấp ba (sách giáo khoa, hướng dẫn điều trị chuẩn, Dược thư Quốc gia Việt Nam).
  • Khung pháp lý và mốc lịch sử triển khai TTT tại Việt Nam: Dự án SIDA "Hỗ trợ hệ thống quản lý Dược" (1994); Việt Nam gia nhập Trung tâm Giám sát Thuốc Toàn cầu Uppsala của WHO (1999); Công văn số 10766/YT-ĐTr (2003) và Công văn số 3483/YT-ĐTr (2004) của Bộ Y tế về hướng dẫn tổ chức đơn vị TTT trong bệnh viện; Quyết định thành lập Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ngày 09/06/2009); Thông tư số 31/2012/TT-BYT hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện.
  • Mô hình quy trình thông tin thuốc 7 bước chuẩn mực được xây dựng từ nghiên cứu gốc của Watanabe và cộng sự (1975), hoàn thiện bởi Host và Kirkwood (1987), kết hợp bảng câu hỏi thu thập thông tin cơ bản của Trung tâm TTT thuộc Đại học Y và Bệnh viện Virginia (1990):
    1. Xác định đặc điểm của người yêu cầu thông tin.
    2. Thu thập các thông tin cơ bản từ người yêu cầu.
    3. Xác định và phân loại yêu cầu cơ bản.
    4. Tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu.
    5. Đánh giá, phân tích, tổng hợp thông tin.
    6. Trả lời thông tin cho khách hàng.
    7. Lưu trữ và thu thập thông tin phản hồi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu bằng phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp thông qua 2 bộ phiếu khảo sát có cấu trúc:

  1. Ước tính cỡ mẫu:

    • Nhóm bệnh nhân ngoại trú (quần thể không xác định): Áp dụng công thức ước tính cỡ mẫu cho tỷ lệ: $$n = \frac{z^2 \cdot p(1-p)}{d^2}$$ Với độ tin cậy 95% ($z = 1,96$), sai số $d = 0,05$, tỷ lệ dự kiến $p = 0,5$, cỡ mẫu tính toán lý thuyết là 384 bệnh nhân. Do loại trừ các phiếu lỗi sai số trong thực tế khảo sát, số lượng mẫu thu thập hợp lệ thực tế là 380 bệnh nhân.
    • Nhóm cán bộ y tế (quần thể xác định $N = 300$): Áp dụng công thức cỡ mẫu cho quần thể hữu hạn: $$n = \frac{N \cdot z^2 \cdot p(1-p)}{d^2(N-1) + z^2 \cdot p(1-p)}$$ Với $N = 300$, độ tin cậy 95% ($z = 1,96$), sai số $d = 0,06$, $p = 0,5$, cỡ mẫu tính toán là 142 cán bộ y tế. Tác giả khảo sát đủ 142 người.
  2. Phương pháp lấy mẫu: Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên tại khu vực cấp phát thuốc ngoại trú và tại 11 khoa phòng lâm sàng/cận lâm sàng.

  3. Phương pháp xử lý số liệu: Nhập và phân tích dữ liệu trên phần mềm Microsoft Excel 2016 và SPSS 20. Sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả (tần số, phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn) và kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$) ở mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$ để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học với nhu cầu TTT.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành, vai trò của TTT đối với an toàn điều trị, phân loại nguồn tài liệu, các tiêu chuẩn pháp lý về nội dung và hình thức TTT, cùng mô hình quy trình xử lý thông tin 7 bước. Tác giả tổng thuật lịch sử hoạt động TTT trên thế giới từ trung tâm đầu tiên tại Trung tâm Y tế Kentucky (Mỹ, 1962), Anh (1969), khó khăn đặc thù tại các nước đang phát triển (thiếu hụt ngân sách, thiếu chuyên gia dịch tễ dược, kiêm nhiệm công việc), đến quá trình thể chế hóa công tác TTT và Cảnh giác Dược tại Việt Nam.

Đồng thời, chương tổng quan phân tích chức năng, nhiệm vụ của đơn vị TTT trong bệnh viện theo Thông tư 13/2009/TT-BYT và Thông tư 31/2012/TT-BYT; tiêu chuẩn của dược sĩ lâm sàng; thực trạng cơ cấu tổ chức khoa Dược Bệnh viện Quận 4 gồm 20 nhân sự, trong đó chỉ có 4 dược sĩ kiêm nhiệm cả công tác TTT lẫn dược lâm sàng.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu cho 380 bệnh nhân ngoại trú và 142 cán bộ y tế thuộc 11 khoa phòng tại Bệnh viện Quận 4 trong các mốc thời gian từ tháng 7/2018 đến tháng 9/2018. Mô tả đầy đủ công thức toán học xác định quy mô mẫu cho quần thể xác định và không xác định, quy trình thiết kế công cụ điều tra phỏng vấn, danh mục chỉ tiêu nghiên cứu (nhân khẩu học, nhu cầu nội dung TTT, hình thức tư vấn, thời gian tư vấn, mức độ hài lòng, khó khăn tra cứu) và thuật toán kiểm định Chi bình phương 4 bước.

Chương 3: Kết quả và bàn luận

Trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực chứng được tổng hợp thành hệ thống bảng và biểu đồ:

  • Phân tích nhân khẩu học nhóm bệnh nhân: độ tuổi, tỷ lệ giới tính (nữ chiếm 67,4%), trình độ văn hóa (51,3% đạt 12/12), nghề nghiệp (lao động chân tay chiếm 50,8%), nơi cư trú (68,2% tại Quận 4), mô hình bệnh tật (bệnh hô hấp chiếm ưu thế với 26,9%) và hình thức chi trả (75,8% dùng thẻ BHYT).
  • Khảo sát nhu cầu TTT của bệnh nhân: 67,6% có nhu cầu tư vấn. Phân tích nguyên nhân nhóm không có nhu cầu (61,0% do bác sĩ đã hướng dẫn đầy đủ). Kết quả kiểm định Chi bình phương chỉ ra giới tính ($p = 0,002$) và nhóm tuổi ($p = 0,014$) có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với nhu cầu TTT.
  • Mức độ ưu tiên nội dung TTT: Tác dụng không mong muốn (ADR) và liều dùng/thời gian dùng được quan tâm cao nhất. Hình thức mong muốn chủ yếu là tư vấn trực tiếp tại bàn hướng dẫn (49,6%) hoặc quầy cấp phát (25,2%) với thời gian từ 5-10 phút (43,2%).
  • Khảo sát nhóm cán bộ y tế: 100% CBYT khẳng định TTT là cần thiết cho công việc. Phân tích thực trạng cập nhật thông tin hàng tuần (34,4%), nhu cầu nhận phản hồi trong vòng 1 ngày (37,8%), trở ngại lớn nhất khi tra cứu là mất nhiều thời gian (47,2%) và 94,3% mong muốn được hỗ trợ từ đơn vị TTT.

Chương 4: Kết luận và đề nghị

Đúc kết các phát hiện then chốt về sự khác biệt giữa nhu cầu của người bệnh và nhân viên y tế, mức độ hài lòng thực tế đối với khoa Dược (61,9% bệnh nhân hài lòng, 53,5% cán bộ y tế đánh giá tốt). Đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm củng cố hoạt động bàn tư vấn thuốc ngoại trú và tối ưu hóa quy trình đáp ứng TTT cho khối lâm sàng.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu cụ thể

1. Đặc điểm mẫu bệnh nhân ngoại trú ($n = 380$):

Thông số nghiên cứu Phân nhóm Số lượng ($n$) Tỷ lệ (%)
Độ tuổi Dưới 18 tuổi 42 11,1%
Từ 18 đến dưới 40 tuổi 201 52,9%
Từ 40 đến dưới 60 tuổi 116 30,5%
Từ 60 tuổi trở lên 21 5,5%
Giới tính Nam 124 32,6%
Nữ 256 67,4%
Học vấn Dưới 12/12 140 36,8%
Tốt nghiệp 12/12 195 51,3%
Trung cấp 14 3,7%
Cao đẳng, Đại học 31 8,2%
Nghề nghiệp Lao động chân tay 193 50,8%
Học sinh – Sinh viên 104 27,4%
Trí thức 56 14,7%
Hưu trí 27 7,1%
Mô hình bệnh tật chính Bệnh hô hấp 113 26,9%
Bệnh tim mạch 58 13,81%
Bệnh tiêu hóa 58 13,81%
Bệnh cơ – xương – khớp 50 11,9%
Hình thức khám Bảo hiểm y tế 288 75,8%
Khám dịch vụ 92 24,2%

2. Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân:

  • Tỷ lệ có nhu cầu TTT đạt 67,6% (257/380 bệnh nhân); 32,4% (123 bệnh nhân) không có nhu cầu.
  • Lý do không có nhu cầu ($n = 123$): 61,0% do bác sĩ đã hướng dẫn đầy đủ; 17,9% do không có thời gian; 15,4% do đã uống thuốc quen thuộc lâu năm; 3,3% tự tham khảo internet; 2,4% lý do khác.
  • Kiểm định mối liên hệ:
    • Giới tính: $\chi^2 = 12,986$, $p = 0,002 < 0,05$ (Nữ có nhu cầu TTT cao hơn nam: 73,2% so với 26,8%).
    • Độ tuổi: $\chi^2 = 10,579$, $p = 0,014 < 0,05$ (Nhóm tuổi 18 đến dưới 40 có nhu cầu chiếm 57,6%).
  • Mức độ cần thiết về nội dung TTT của bệnh nhân (thang điểm 1: Rất cần thiết đến 4: Không cần thiết; điểm trung bình càng thấp mức độ cần thiết càng cao):
    • Tác dụng không mong muốn: Điểm trung bình $1,95 \pm 0,799$ (Rất cần thiết: 27,6%; Cần thiết: 55,3%).
    • Liều dùng, thời gian dùng: Điểm trung bình $2,03 \pm 0,788$ (Rất cần thiết: 21,8%; Cần thiết: 60,7%).
    • Lưu ý trong ăn uống, sinh hoạt: Điểm trung bình $2,04 \pm 0,709$ (Cần thiết: 70,8%).
    • Cách quan sát, xử trí triệu chứng khác lạ: Điểm trung bình $2,07 \pm 0,689$ (Cần thiết: 66,1%).
    • Tình trạng cơ thể có dùng thuốc được không: Điểm trung bình $2,12 \pm 0,907$.
    • Cách bảo quản: Điểm trung bình $2,38 \pm 0,796$.
    • Thông tin về thuốc bảo hiểm: Điểm trung bình $2,54 \pm 0,839$.
    • Giá tiền: Điểm trung bình $2,56 \pm 0,841$.
    • Cách dùng các dạng thuốc đặc biệt: Điểm trung bình $2,77 \pm 1,13$ (Không cần thiết chiếm 41,7%).
  • Thói quen và đánh giá của bệnh nhân:
    • Hình thức tư vấn mong muốn: Hỏi trực tiếp tại bàn tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc chiếm 49,6%; hỏi trực tiếp tại quầy cấp phát chiếm 25,2% (tổng cộng hình thức hỏi đáp trực tiếp chiếm 75,8%).
    • Thời lượng mong muốn: 5 đến dưới 10 phút chiếm 43,2%; dưới 5 phút chiếm 26,1%; không giới hạn thời gian chiếm 22,6%.
    • Cán bộ cung cấp TTT thực tế cho bệnh nhân: Bác sĩ kê đơn chiếm 78,6% (202 người); Dược sĩ chiếm 20,65% (53 người); Điều dưỡng chiếm 0,8% (2 người).
    • Tỷ lệ thắc mắc sau khi rời bệnh viện: 70,4% không còn thắc mắc; 29,6% còn thắc mắc. Trong số người thắc mắc, 33,9% tìm kiếm trên internet, 21,0% quay lại bệnh viện hỏi CBYT, 19,3% ra nhà thuốc bên ngoài hỏi dược sĩ, 12,1% xem lại tờ hướng dẫn hoặc hỏi người thân.
    • Mức độ hài lòng của bệnh nhân: 61,9% Hài lòng; 22,1% Bình thường; 14,8% Rất hài lòng; 1,2% Không hài lòng.

3. Đặc điểm và nhu cầu thông tin thuốc của cán bộ y tế ($n = 142$):

  • Cơ cấu: 45 bác sĩ, 68 điều dưỡng, 12 kỹ thuật viên và 17 hộ lý thuộc 11 khoa phòng.
  • 100% cán bộ y tế nhận định TTT rất cần thiết và cần thiết cho công việc chuyên môn.
  • Mục đích tra cứu: Vận dụng trong công việc/chuyên môn chiếm 37,1% (tóm tắt văn bản ghi 37,2%); bổ sung kiến thức chuyên môn; làm tài liệu tham khảo nghiên cứu.
  • Nội dung ưu tiên tìm kiếm: Chống chỉ định, chỉ định...
  • Tần suất cập nhật TTT: Định kỳ mỗi tuần một lần chiếm 34,4%.
  • Thời gian mong muốn nhận phản hồi câu hỏi TTT: Trong vòng 1 ngày chiếm 37,8%.
  • Hình thức trao đổi thông tin đang dùng và mong muốn: Trao đổi trực tiếp chiếm 35,6%.
  • Nhu cầu nhận thông tin từ đơn vị TTT của bệnh viện: Đạt 94,3%.
  • Khó khăn lớn nhất khi tự tra cứu TTT: Mất nhiều thời gian chiếm 47,2%.
  • Thực trạng tư vấn của CBYT cho bệnh nhân: 54,9% thường xuyên tư vấn; 52,1% tư vấn đến khi giải đáp hết câu hỏi của người bệnh.
  • Đánh giá của CBYT về công tác TTT của khoa Dược: 53,5% đánh giá tốt.

Đóng góp thực tiễn của đề tài

  • Cung cấp bức tranh thực chứng đầu tiên về nhu cầu TTT của hai nhóm đối tượng chính (người bệnh ngoại trú và nhân viên y tế) tại một bệnh viện quận hạng II trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
  • Làm rõ khoảng trống giữa vai trò cung cấp TTT thực tế: Bác sĩ hiện là người cung ứng TTT chủ yếu cho người bệnh ngoại trú (78,6%), trong khi tỷ lệ được dược sĩ tư vấn còn thấp (20,65%), chỉ ra sự cần thiết phải kiện toàn vị trí của dược sĩ lâm sàng tại bàn tư vấn ngoại trú.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để Ban Giám đốc và Khoa Dược Bệnh viện Quận 4 tái cấu trúc quy trình TTT, tối ưu hóa các kênh cung cấp thông tin (bàn tư vấn trực tiếp, phản hồi văn bản trong vòng 24 giờ cho khối lâm sàng).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Quy mô mẫu và hao hụt dữ liệu: Quá trình thu thập dữ liệu nhóm bệnh nhân ngoại trú gặp lỗi sai số ở một số phiếu khảo sát, dẫn đến quy mô mẫu thực tế đạt 380 người, thấp hơn cỡ mẫu tính toán lý thuyết tối thiểu ($n = 384$).
  • Phạm vi địa bàn và đối tượng: Nghiên cứu chỉ tiến hành tại một cơ sở y tế duy nhất là Bệnh viện Quận 4, nơi phần lớn bệnh nhân tập trung ở Quận 4 (68,2%) và Quận 7 (20,5%), có tính chất đại diện cục bộ cho khu vực đô thị có quy mô bệnh viện hạng II, chưa bao quát được các bệnh viện chuyên khoa hoặc tuyến trên.
  • Hạn chế về nguồn lực đơn vị nghiên cứu: Khoa Dược chỉ có 4 nhân sự kiêm nhiệm cả công tác TTT lẫn dược lâm sàng tại khoa phòng, dẫn đến dữ liệu khảo sát chủ yếu phản ánh nhu cầu và đánh giá cảm tính ban đầu mà chưa đo lường được các chỉ số can thiệp dược lâm sàng chuyên sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát đa trung tâm tại các bệnh viện tuyến quận/huyện khác trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh để đối sánh các mô hình tổ chức TTT.
  • Nghiên cứu đo lường kết quả can thiệp thực tế của dược sĩ tại bàn tư vấn thuốc ngoại trú: đánh giá tỷ lệ cải thiện mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh và tỷ lệ phát hiện, ngăn ngừa phản ứng có hại (ADR) hoặc tương tác thuốc trên đơn thuốc ngoại trú.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên Dược khoa: Là tài liệu tham khảo phương pháp luận thực tế cho các khóa luận tốt nghiệp ngành Dược sĩ đại học, đặc biệt thuộc hai định hướng Quản lý & Cung ứng thuốc và Dược lâm sàng. Đề tài cung cấp mẫu thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kỹ thuật tính toán cỡ mẫu cho quần thể xác định/không xác định và quy trình kiểm định Chi bình phương trên phần mềm SPSS.
  • Đối với dược sĩ bệnh viện và cán bộ quản lý khoa Dược: Cung cấp số liệu tham khảo thực tế về cơ cấu nhu cầu TTT để thiết kế danh mục tài liệu tra cứu ưu tiên tại khoa Dược; định hình khung thời gian (5-10 phút) và nội dung ưu tiên (ADR, liều dùng, lưu ý sinh hoạt) khi thiết lập bàn hướng dẫn sử dụng thuốc ngoại trú.
  • Phần nội dung đáng chú ý: Bảng tổng hợp quy trình thông tin thuốc 7 bước chuẩn mực (Chương 1, Mục 1.1.5) và hệ thống dữ liệu điều tra thực chứng về các khó khăn tra cứu TTT của cán bộ y tế (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Quận 4 đạt tỷ lệ bao nhiêu, và nguyên nhân chính của nhóm không có nhu cầu là gì?

Khảo sát trên 380 bệnh nhân ngoại trú cho thấy có 257 bệnh nhân có nhu cầu TTT, đạt tỷ lệ 67,6%; 123 bệnh nhân (chiếm 32,4%) không có nhu cầu. Trong nhóm không có nhu cầu, 61,0% (75 bệnh nhân) cho rằng bác sĩ đã hướng dẫn đầy đủ; 17,9% do không có thời gian; 15,4% do uống thuốc quen thuộc lâu năm; 3,3% chỉ cần tham khảo internet và 2,4% vì lý do khác.

2. Các yếu tố nhân khẩu học nào có mối liên hệ thống kê với nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân?

Qua kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$) ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$, nghiên cứu xác định có hai yếu tố nhân khẩu học liên quan có ý nghĩa thống kê đến nhu cầu TTT:

  • Giới tính: $\chi^2 = 12,986; p = 0,002 < 0,05$. Bệnh nhân nữ có nhu cầu TTT cao hơn nam giới (chiếm 73,2% trong nhóm có nhu cầu).
  • Độ tuổi: $\chi^2 = 10,579; p = 0,014 < 0,05$. Nhóm tuổi trẻ và trung niên (từ 18 đến dưới 40 tuổi) có nhu cầu TTT cao nhất (chiếm 57,6% trong nhóm có nhu cầu).

3. Nội dung thông tin thuốc nào được bệnh nhân đánh giá là cần thiết nhất và hình thức tư vấn nào được ưu tiên lựa chọn?

Nội dung được bệnh nhân đánh giá cần thiết nhất là "Tác dụng không mong muốn" (điểm trung bình $1,95 \pm 0,799$) và "Liều dùng, thời gian dùng" ($2,03 \pm 0,788$). Về hình thức tiếp nhận, 75,8% bệnh nhân mong muốn được hỏi đáp trực tiếp (49,6% chọn bàn tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc; 25,2% chọn quầy mua/cấp phát thuốc) với khoảng thời gian tư vấn lý tưởng là từ 5 đến dưới 10 phút (43,2%).

4. Cán bộ y tế tại Bệnh viện Quận 4 gặp khó khăn gì lớn nhất khi tra cứu thông tin thuốc và có kỳ vọng gì đối với đơn vị TTT?

Khó khăn phổ biến nhất mà cán bộ y tế gặp phải khi tra cứu TTT là mất nhiều thời gian (chiếm 47,2%). Có tới 94,3% cán bộ y tế có nhu cầu nhận hỗ trợ từ đơn vị TTT của bệnh viện, với kỳ vọng được phản hồi câu hỏi chuyên môn trong vòng 1 ngày (37,8%) thông qua hình thức trao đổi trực tiếp (35,6%).

5. Cơ cấu nhân sự thực hiện công tác thông tin thuốc tại Khoa Dược Bệnh viện Quận 4 thời điểm nghiên cứu gồm bao nhiêu người?

Thời điểm năm 2018, Khoa Dược Bệnh viện Quận 4 có tổng cộng 20 nhân viên. Bộ phận phụ trách công tác TTT gồm 4 nhân sự, đều là dược sĩ đại học kiêm nhiệm đồng thời nhiệm vụ dược lâm sàng tại các khoa phòng.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Huỳnh Phúc Diễm Hoàng đã phản ánh toàn diện thực trạng và nhu cầu thông tin thuốc tại Bệnh viện Quận 4 năm 2018 trên cả hai nhóm đối tượng: bệnh nhân ngoại trú (với 67,6% có nhu cầu, ưu tiên nội dung về ADR và liều dùng qua tư vấn trực tiếp) và cán bộ y tế (100% khẳng định tính cần thiết, 94,3% mong muốn nhận hỗ trợ từ đơn vị TTT nhằm khắc phục trở ngại về thời gian tra cứu). Nghiên cứu chỉ ra vai trò cung cấp TTT cho bệnh nhân tại bệnh viện hiện vẫn phụ thuộc chủ yếu vào bác sĩ kê đơn (78,6%), trong khi sự tham gia trực tiếp của dược sĩ còn khiêm tốn (20,65%). Các phát hiện định lượng này cung cấp cơ sở thực tiễn xác đáng để Bệnh viện Quận 4 kiện toàn tổ chức, phân công nhân lực dược sĩ chuyên trách và phát triển bàn tư vấn thuốc ngoại trú nhằm nâng cao hiệu quả điều trị an toàn, hợp lý.