Đồ án Y tế: Khảo sát tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở người

Khảo sát tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh lao phổi được quản lý điều trị ngoại trú tại trung tâ phục vụ n

Trường đại học

Trường Đại Học Lạc Hồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ Án Tốt Nghiệp Thạc Sĩ

2025

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tầm Quan Trọng của Tuân Thủ Điều Trị Bệnh Lao

Tuân thủ điều trị là yếu tố then chốt trong việc kiểm soát và chấm dứt bệnh lao vào năm 2030. Bệnh lao là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, để lại những hậu quả nặng nề cho bản thân người bệnh, gia đình và xã hội. Để đạt được hiệu quả điều trị tối ưu, việc tuân thủ phác đồ điều trị trong toàn bộ quá trình trị bệnh là không thể thiếu. Những người bệnh lao phổi được quản lý điều trị ngoại trú cần phải có sự cam kết cao trong việc sử dụng thuốc đầy đủ theo đơn và khoảng thời gian quy định. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị không cao lắm, đặc biệt ở những bệnh nhân có tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị. Do đó, việc nâng cao nhận thức và hỗ trợ bệnh nhân tuân thủ điều trị là ưu tiên hàng đầu.

1.1. Định Nghĩa Tuân Thủ Điều Trị

Tuân thủ điều trị (medication adherence) là mức độ mà người bệnh sử dụng thuốc theo đúng chỉ dẫn của nhân viên y tế. Thang đo MMAS-8 được sử dụng để đánh giá tuân thủ dùng thuốc một cách khoa học và chính xác. Đây là công cụ đo lường hiệu quả được kiểm định tính đúng và độ tinh cậy cao, giúp xác định mức độ tuân thủ của người bệnh lao phổi được quản lý điều trị ngoại trú.

1.2. Hậu Quả của Không Tuân Thủ

Khi người bệnh không tuân thủ điều trị, sẽ dẫn đến tình trạng lao kháng thuốc, kéo dài thời gian điều trị và tăng nguy cơ tử vong. Những bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn có khả năng tuân thủ thấp hơn. Việc không hoàn thành phác đồ điều trị cũng góp phần vào sự lây lan bệnh lao trong cộng đồng.

II. Các Yếu Tố Liên Quan Đến Tuân Thủ Điều Trị

Nghiên cứu khảo sát tại Trung tâm Y tế huyện Củ Chi năm 2024 trên 400 người bệnh lao phổi đã xác định được nhiều yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị. Các yếu tố này bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, thói quen sống, và các vấn đề sức khỏe liên quan. Giới tính, tình trạng hút thuốc lá, tình trạng sử dụng rượu bia là những yếu tố có ý nghĩa thống kê đối với tuân thủ điều trị. Bên cạnh đó, tác dụng không mong muốn của thuốc chiếm 33,3% là một rào cản đáng kể ảnh hưởng đến khả năng tuân thủ của bệnh nhân. Sự tham gia vào các chương trình giáo dục về tuân thủ cũng là yếu tố quan trọng giúp cải thiện tỷ lệ tuân thủ.

2.1. Yếu Tố Nhân Khẩu Học và Hành Vi Sống

Giới tínhtình trạng hút thuốc lá là những yếu tố nhân khẩu học chính ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị. Tình trạng sử dụng rượu bia cũng là một rào cản đáng kể. Những người bệnh lao phổi có thói quen hút thuốc hoặc uống rượu bia thường có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn những người không có thói quen này.

2.2. Tác Dụng Không Mong Muốn và Giáo Dục Bệnh Nhân

Tác dụng không mong muốn của thuốc là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng không tuân thủ. Người bệnh tham gia chương trình giáo dục về tuân thủ điều trị có khả năng tuân thủ tốt hơn (OR=0,490). Giáo dục bệnh nhân về tầm quan trọng của tuân thủ phác đồ điều trị và cách quản lý tác dụng không mong muốn giúp nâng cao tỷ lệ tuân thủ.

III. Phác Đồ Điều Trị Bệnh Lao Phổi

Phần lớn người bệnh được điều trị theo phác đồ 6 tháng chiếm 92,2%, trong khi chỉ 7,8% sử dụng phác đồ 12 tháng. Trong giai đoạn tấn công, 91,5% người bệnh được điều trị theo công thức phối hợp 4 thuốc (H, R, Z, E) - đây là tiêu chuẩn vàng cho điều trị lao. Giai đoạn cũng cố sử dụng công thức phối hợp 3 thuốc (R, H, Z) với tỷ lệ 8,5%. Việc tuân thủ phác đồ điều trị chính xác là cần thiết để đạt được kết quả tối ưu và tránh tình trạng lao kháng thuốc. Tất cả bệnh nhân cần phải hoàn thành toàn bộ phác đồ điều trị theo đơn dù là 6 tháng hay 12 tháng.

3.1. Phác Đồ 6 Tháng và 12 Tháng

Phác đồ 6 tháng là tiêu chuẩn điều trị chính cho bệnh lao phổi, được áp dụng cho 92,2% bệnh nhân. Phác đồ 12 tháng được sử dụng cho những trường hợp đặc biệt chỉ chiếm 7,8%. Sự lựa chọn phác đồ điều trị phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng và loại lao của từng bệnh nhân cụ thể.

3.2. Giai Đoạn Tấn Công và Cũng Cố

Giai đoạn tấn công sử dụng công thức 4 thuốc (H, R, Z, E) kéo dài 2 tháng với 91,5% bệnh nhân. Giai đoạn cũng cố sử dụng 3 thuốc (R, H, Z) trong 4 tháng còn lại. Tuân thủ phác đồ chính xác ở cả hai giai đoạn là quyết định thành công của điều trị bệnh lao phổi.

IV. Chiến Lược Nâng Cao Tuân Thủ Điều Trị

Để cải thiện tỷ lệ tuân thủ điều trị bệnh lao, cần triển khai nhiều chiến lược toàn diện. Chương trình giáo dục về tuân thủ là một trong những can thiệp hiệu quả nhất, giúp người bệnh hiểu được tầm quan trọng của tuân thủ phác đồ điều trị. Cần tăng cường hỗ trợ tâm lý và xã hội cho người bệnh, đặc biệt những người có tác dụng không mong muốn. Kết hợp với việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân hóa, tư vấn về thay đổi lối sống (bỏ thuốc lá, rượu bia), sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị. Sự phối hợp giữa các nhân viên y tế, gia đình và người bệnh trong quản lý điều trị ngoại trú là chìa khóa để đạt được tuân thủ điều trị tối ưu.

4.1. Giáo Dục và Tư Vấn Bệnh Nhân

Chương trình giáo dục về tuân thủ cần được thiết kế phù hợp với đối tượng bệnh nhân. Tư vấn individual về tầm quan trọng của tuân thủ phác đồ điều trị và cách quản lý tác dụng không mong muốn là rất cần thiết. Các chuyên gia y tế cần cung cấp thông tin rõ ràng và dễ hiểu về bệnh lao và tuân thủ điều trị.

4.2. Hỗ Trợ Xã Hội và Thay Đổi Lối Sống

Hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng giúp người bệnh tuân thủ điều trị tốt hơn. Khuyến khích bỏ tình trạng hút thuốc lásử dụng rượu bia để tăng cường hiệu quả điều trị. Các chương trình hỗ trợ xã hội và tâm lý giúp giảm bớt áp lực và tăng cường động lực của bệnh nhân trong quá trình điều trị dài.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa Bệnh lao phổi là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra, chủ yếu tấn công vào phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng tới các cơ quan khác trong cơ thể. Lao phổi lây lan chủ yếu qua không khí khi người bệnh ho, hắt hơi. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2020), lao phổi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở các nước đang phát triển. việc phát hiện và điều trị bệnh lao phổi kịp thời và đúng cách là yếu tố quan trọng để ngăn ngừa sự lây lan và giảm tử vong.

Người nghi mắc bệnh lao: là người có triệu chứng lâm sàng nghi lao hoặc có hình ảnh bất thường nghi lao trên phim chụp X- quang hoặc các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác. Người mắc bệnh lao: là người bệnh có tình trạng bệnh lý do vi khuẩn lao gây ra. Biểu hiện các triệu chứng của bệnh lao, chẩn đoán dựa trên tìm thấy vi khuẩn lao bằng các kỹ thuật vi sinh hoặc có bằng chứng mô bệnh học của tổn thương do lao hoặc người làm việc học tập cùng phòng ở cơ quan, trường học với người mắc bệnh lao phổi, hoặc những người đáp ứng điều kiện sau: Ngủ cùng nhà hoặc cùng phòng với bệnh nhân lao phổi ít nhất 01 đêm/tuần trong 03 tháng trước khi bệnh nhân lao phổi được chẩn đoán, hoặc ở cùng nhà cùng phòng với bệnh nhân lao phổi ít nhất 01 giờ/ ngày và liên tục 05 ngày/ tuần, trong 03 tháng trước khi bệnh nhân lao phổi được chẩn đoán. Vi khuẩn lao là một loại trực khuẩn có tên khoa học là Mycobacterium tuberculosis thuộc giống Mycobacteria được Robert Koch phát hiện năm 1882.

Đây là tác nhân chính gây bệnh lao ở người, ngoài trực khuẩn lao điển hình, còn có một số loại Mycobacteria khác gây bệnh giống lao ở người được gọi là vi khuẩn lao không điển hình, là những vi khuẩn cơ hội thường gây bệnh trên những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Trực khuẩn lao có tính kháng cồn và kháng axit, thuộc loại hiếu khí tuyệt đối, mọc tốt ở nhiệt độ 37°C, pH 6,7-6,9. Tốc độ tăng trưởng của trực khuẩn lao rất chậm, từ 15 đến 20 giờ để vi khuẩn nhân đôi ( tạo thế hệ mới). 4 Trong đàm ẩm trực khuẩn lao có thể sống được vài tháng, trong dịch dạ dày sống được 6 giờ, ở quần áo để trong bóng tối trực khuẩn lao sống được vài tháng, khi ho các hạt nhỏ chứa trực khuẩn bay lơ lửng trong không khí như bụi, có thể gây nhiễm cho người khác trong khoảng 8-10 ngày.

Các chất như acid, cồn, base, và các chất sát khuẩn phải có nồng độ cao và thời gian tiếp xúc lâu mới diệt được trực khuẩn lao. Nhiệt độ và tia tử ngoại diệt trực khuẩn lao dễ dàng, ánh nắng chiếu trực tiếp sẽ diệt được vi khuẩn sau 50 phút.3 Phân loại bệnh lao Một số thể lao thường gặp. Bộ Y tế đã đưa ra một số thể lao thường gặp bao gồm lao phổi và lao ngoài phổi (Bộ Y tế, 2018). Lao phổi: Bệnh lao tổn thương ở phổi – phế quản, bao gồm cả lao kê.

Trường hợp tổn thương phối hợp cả ở phổi và cơ quan ngoài phổi được phân loại là lao phổi. Lao ngoài phổi: Bệnh lao tổn thương ở các cơ quan ngoài phổi như: màng phổi, hạch, màng bụng, sinh dục, tiết niệu, da, xương khớp, màng não, màng tim. Nếu lao nhiều bộ phận thì bộ phận có biểu hiện tổn thương nặng nhất là ( Lao màng não, xương khớp).được ghi là chẩn đoán chính. Lao sơ cấp: (Primary Tuberculosis) xảy ra ngay sao lần tiếp xúc đầu tiên với Mycobacterium Tuberculosis.

Lao tái phát hoặc lao thứ cấp: phát sinh sau một thời gian ẩn của vi khuẩn trong cơ thể khi hệ miễn dịch suy giảm ( do tuổi tác, bệnh nền, HIV/AIDS, hoặc các yếu tố ức chế miễn dịch khác). Lao không kháng thuốc: (Drug-Suseptible Tuberculosis): Đây là dạng lao đáp ứng với liệu trình điều trị chẩn đoán theo khuyến cáo của WHO. ❖ Lao kháng thuốc: (Drug-Resistant Tuberculosis): Bao gồm: 5 Lao đơn kháng thuốc: (Mono-Resistant TB) Kháng một loại thuốc chống lao cụ thể Lao đa kháng thuốc: (Multidrug- Resistant TB – MDR-TB) là bệnh gây ra bởi vi khuẩn lao kháng ít nhất Isoniazid và Rifampicin, hai loại thuốc điều trị lao mạnh nhất, những loại thuốc này được sử dụng để điều trị tất cả những người bệnh lao. Lao siêu kháng thuốc: (Extensively Drug-Resitan TB – XDR – TB) ngoài kháng Isoniazid và Rifampicin, bệnh nhân còn kháng thêm ít nhất một nhóm thuốc lao thế hệ thứ hai như : (fluoroquinolones và ít nhất một trong các nhóm thuốc phụ khác).

Lao kháng thuốc tiếp tục là mối đoe dọa đến sức khỏe cộng đồng. Năm 2019, gần 500 nghìn người trên thế giới đã phát hiện bệnh lao kháng Rifampicin (RR-TB), trong đó khoảng 465 nghìn trường hợp là MDR/RR-TB và ước tính trong số các trường hợp RR-TB trên toàn cầu có tỷ lệ mắc lao đa kháng thuốc là 78%. Gần 50% các trường hợp ở Ấn Độ 27%, Trung Quốc 14% và Liên Bang Nga 8%. Ước tính khoảng 182 nghìn người tử vong do MDR/RR-TB.

Tỷ lệ kháng Isoniazid ở các trường hợp mắc mới khoảng 13,1% (KTC 95%; 99-16,9%) và các trường hợp đã từng điều trị trước đó là 17,4% (KTC 95%; 0,5-54%). ❖ Nguyên nhân gây lao đa kháng thuốc. Không tuân thủ dùng phác đồ điều trị là nguyên nhân chính dẫn đến lao đa kháng thuốc, hay người bệnh bỏ dở điều trị, một số bệnh nhân không tuân thủ đúng chỉ dẫn, ngừng thuốc sớm hoặc không theo đúng lịch trình. Điều này tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và kháng thuốc.

(Quyết định 1314/QĐ - BYT) Bệnh lao có thể biểu hiện dưới nhiều dạng lâm sàng khác nhau phụ thuộc vào vị trí nhiễm trùng (Lao phổi hay lao ngoài phổi) giai đoạn bệnh và đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân. Các triệu chứng của bệnh nhân thường được phân thành hai nhóm chính: Triệu chứng lao phổi và triệu chứng lao ngoài phổi.Triệu chứng lao phổi Các triệu chứng lao phổi thường gặp gồm: • Ho kéo dài: 6 Ho là triệu chứng điển hình có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng. Ban đầu ho có thể không kèm theo đờm, nhưng theo thời gian bệnh nhân có thể xuất hiện ho có đờm, trong một số trường hợp ho ra máu (Hemoptysis). • Đau ngực Một số bệnh nhân có thể thấy đau hoặc khó chịu ở vùng ngực, đặc biệt là khi ho mạnh hoặc trong quá trình thở sâu.

• Sốt nhẹ - sốt không giải thích được: Nhiệt độ cơ thể của bệnh nhân lao thường tăng nhẹ, kèm theo cảm giác ớn lạnh, đặc biệt vào buổi tối hoặc ban đêm • Đổ mồ hôi đêm: Triệu chứng này được xem là triệu chứng điển hình của bệnh lao, khi bệnh nhân có hiện tượng đổ mồ hôi vào ban đêm mà không liên quan đến nhiệt độ môi trường. Sụt cân và mất khẩu vị: Do tình trạng viên mạn tính và đáp ứng miễn dịch kéo dài, bệnh nhân lao thường gặp tình trạng giảm cân không rõ nguyên nhân cùng với mất cảm giác ngon miệng. Mệt mỏi và suy nhược. Tình trạng mệt mỏi dai dẳng và suy nhược cơ thể là những triệu chứng phổ biến góp phần làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Triệu chứng lao ngoài phổi. Lao màng phổi: gây ra hiện tượng đau ngực, khó thở và tắc nghẽn phổi. Lao xương khớp: Thường biểu hiện qua đau nhứt sưng tấy và giảm chức năng vận động ở các khớp bị ảnh hưởng. Lao trung tâm thần kinh: khi nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, sốt, nôn mửa, và thay đổi nhận thức, thậm chí có nguy cơ mắc bệnh màng não lao.4 Điều trị lao phổi và quản lý điều trị ngoại trú 1.1 Nguyên tắc điều trị.

Điều trị lao phổi bao gồm việc sử dụng các thuốc chống lao được cấp phát theo phác đồ của Bộ Y tế Việt Nam bao gồm các thuốc như: Rifampicin, Isoniazid, Pyrazinamide, Ethambutol (Bộ Y tế, 2020). Điều trị lao phổi kéo dài và cần sự tuân 7 thủ nghiêm ngặt để đạt được hiệu quả vì vậy cần phải thực hiện theo 4 nguyên tắc điều trị lao (Bộ Y tế, 2020). Nguyên tắc 1: Phối hợp với thuốc chống lao. Mỗi loại thuốc chống lao có tác dụng khác nhau trên vi khuẩn lao (diệt khuẩn, kìm khuẩn và triệt khuẩn), do vậy phải phối hợp các thuốc chống lao.

Đối với lao nhạy cảm thuốc phải phối hợp ít nhất 03 (ba) loại thuốc chống lao trong giai đoạn tấn công và ít nhất 02 (hai) loại trong giai đoạn duy trì. Đối với bệnh lao kháng thuốc các thuốc phối hợp theo nguyên tắc riêng, tùy thuộc vào phác đồ. Nguyên tắc 2: Dùng thuốc đúng liều Các thuốc chống lao có tác dụng hiệp đồng, mỗi thuốc có một nồng độ tác dụng nhất định. Nếu dùng liều thấp sẽ không hiệu quả và dễ tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, nếu dùng liều cao dễ gây các biến cố bất lợi.

Đối với lao trẻ em cần được điều chỉnh thuốc hàng tháng theo cân nặng Nguyên tắc 3: Dùng thuốc đều đặn Các thuốc điều trị lao nhạy cảm tốt nhất được uống cùng một lần, vào thời gian nhất định trong ngày, và xa bữa ăn để đạt tác dụng cộng hợp, hấp thu và ổn định nồng độ thuốc trong máu tối đa. Các thuốc điều trị lao kháng thuốc: dùng thuốc 06 (sáu) ngày/tuần, đa số thuốc dùng một lần vào buổi sáng và cùng với bữa ăn. Một số thuốc có thể chia 02 (hai) lần trong ngày (sáng, chiều) để giảm biến cố bất lợi. Phải thực hiện đều trị thuốc lao có kiểm soát hàng ngày đối với tất cả người bệnh lao.

Nguyên tắc 4: phải dùng thuốc đủ thời gian và theo 2 giai đoạn tấn công và duy trì Giai đoạn tấn công kéo dài 2 – 3 tháng nhằm tiêu diệt nhanh số lượng lớn vi khuẩn có trong các vùng tổn thương để ngăn chặn các vi khuẩn lao đột biến kháng thuốc. Giai đoạn duy trì kéo dài 4 – 6 tháng nhằm tiêu diệt triệt để các vi khuẩn lao trong vùng tổn thương để tránh tái phát. Đối với bệnh lao kháng thuốc: thành phần và thời gian sử dụng các thuốc theo từng giai đoạn tùy thuộc vào từng phác đồ. Phác đồ điều trị chuẩn ngắn hạn từ 9-11 tháng có giai đoạn tấn công 4-6 tháng, phác đồ điều trị chuẩn 20 tháng có thời gian tấn công 8 tháng, phác đồ cá nhân có thể thay 8 đổi thời gian sử dụng của từng loại thuốc tùy thuộc vào kết quả kháng sinh đồ, đáp ứng điều trị, tiền sử điều trị và khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ