phần mở đầu, truyền thuyết có các kiểu mô típ: Sự thụ thai kì lạ để sinh ra nhân vật; tướng lạ từ ngay lúc lọt lòng; những biểu hiện khác thường, hơn đời ngay từ lúc còn trẻ; nhân vật xuất hiện giữa thời thế đặc biệt; nhân vật xuất thân nghèo khổ hoặc ngược lại. Phần kết gồm các kiểu môtip: Sự vinh phong, gia phong tên hiệu, mĩ tự của các triều đại sau; các chi tiết về nghi lễ thờ cúng; hóa thân của nhân vật; sự hiển linh hiển thánh của nhân vật. Riêng phần thứ hai – đoạn kể về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật tập trung kể lại hành trạng, hành động của nhân vật và thường không sử dụng các mô típ. Mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật có hành trạng, hành động riêng.
Tính hiện thực lịch sử vì vậy thường được thể hiện đậm đặc nhất ở phần này. Như vậy, quan điểm trên của Kiều Thu Hoạch là cơ sở giúp chúng ta nhận diện tác phẩm của thể loại truyền thuyết và phân biệt nó với thần thoại, cổ tích – những thể loại tự sự dân gian gần gũi với truyền thuyết nhất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 http://www. Phân loại truyền thuyết Hiện nay, chúng ta thấy có nhiều ý kiến phân loại thể loại truyền thuyết.
Sự phong phú về cách phân loại truyền thuyết là xuất phát từ những quan niệm và tiêu chí khác nhau. Theo tác giả Lê Trường Phát thì nếu căn cứ vào nội dung của thời kì lịch sử được truyền thuyết phản ánh – ghi chép thì ý kiến của ông đồng nhất với ý kiến của Hoàng Tiến Tựu. Nếu căn cứ vào lịch sử và “phạm vi những sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm”, theo ông có: những truyền thuyết về thời các vua Hùng; những truyền thuyết về sau thời các vua Hùng. Cũng theo tác giả này thì Đỗ Bình Trị lại chia truyền thuyết thành ba tiểu loại: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử.
Trong cuốn “Tổng tập văn học dân gian người Việt”, tác giả Kiều Thu Hoạch đã chỉ ra những quan điểm phân loại truyền thuyết ở Việt Nam như: Theo Lê Chí Quế, ông chia truyền thuyết làm 3 loại gồm: Truyền thuyết lịch sử; Truyền thuyết anh hùng; Truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Tác giả Hoàng Tiến Tựu thì chia thành bốn nhóm: Truyền thuyết về họ Hồng Bàng; Truyền thuyết về thời kì Âu Lạc và Bắc thuộc; Truyền thuyết về thời kì phong kiến tự chủ; Truyền thuyết về thời kì pháp thuộc. Phân tích những điểm hợp lý và bất hợp lý trong những cách phân loại trên, các tác giả cuốn sách đã đưa ra cách phân loại của mình. Theo Kiều Thu Hoạch, hệ thống truyền thuyết trong kho tàng truyền thuyết người Việt gồm ba loại lớn: Truyền thuyết nhân vật (trong đó lại bao gồm: Truyền thuyết về các anh hùng chống xâm lược; truyền thuyết về các anh hùng văn hóa; truyền thuyết về các anh hùng nông dân).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 http://www.vn Truyền thuyết địa danh giải thích nguồn gốc tên gọi của các địa danh ở các địa phương mà có gắn với các sự kiện lịch sử. Truyền thuyết phong vật kể về các phong tục, hội hè, trò diễn… có gắn với các nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. Qua sự phân loại của các tác giả, chúng tôi nhất trí với quan điểm của tác giả Kiều Thu Hoạch. Đây là cách phân loại hợp lý bởi chúng tôi thấy rằng trong cách phân loại này tác giả không chỉ dựa vào đối tượng được đề cập, không chỉ dựa vào chủ đề mà còn dựa vào cả chức năng của thể loại truyền thuyết.
Cách phân loại này khoa học bởi tác giả đã xuất phát từ sự nhìn nhận đánh giá truyền thuyết ở những cấp độ và bình diện khác nhau nên không bị bỏ sót, cũng không bị trùng lặp. Đặc điểm địa lý - lịch sử văn hóa các tộc ngƣời ở Yên Bái 1. Đặc điểm địa lý Yên Bái 1. Đặc điểm vị trí địa lý Yên Bái là một trong những tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là một trong 13 tỉnh miền núi phía Bắc.
Tuy nhiên so với các tỉnh miền núi khác, Yên Bái có vị trí địa lý khá đặc biệt. Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía đông giáp hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, phía Tây giáp tỉnh Sơn La. Yên Bái là tỉnh nằm giữa hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc, nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc và Trung du Bắc Bộ. Chính vì vậy mà cả đặc điểm tự nhiên và kinh tế văn hóa xã hội của tỉnh có mối quan hệ giao lưu và mang dấu ấn của cả ba vùng.
Yên Bái là tỉnh giữ vị trí trọng yếu về kinh tế và quân sự của Việt Nam và có lợi thế trong giao lưu với các tỉnh bạn. Với diện tích tự nhiên 6888 km2 với ¾ là đồi núi, Yên Bái có 01 thành phố (Yên Bái), 01 thị xã (Nghĩa Lộ), 07 huyện thị (Yên Bình, Lục Yên, Trấn Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải). Địa hình của Yên Bái, cao dần từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 http://www.vn đông Nam lên Tây Bắc và được kiến tạo bởi ba dãy núi lớn đều có hướng chạy Tây Bắc – Đông Nam. Phía Tây có dãy núi Hoàng Liên Sơn – Pú Luông kẹp giữa sông Hồng và sông Đà, tiếp đến là dãy núi cổ Con Voi nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Chảy.
Phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông Chảy và sông Lô. Tuy địa hình khá phức tạp nhưng chúng ta có thể chia thành hai vùng lớn: Vùng cao và vùng thấp. Vùng cao có độ cao trung bình khoảng 600m trở lên chiếm 67,56%. Vùng thấp có độ cao dưới 600m là phần diện tích còn lại.
Trong lịch sử, do những điều kiện khách quan và chủ quan mà địa giới Yên Bái trước kia và ngày nay đã có nhiều thay đổi. Từ rất xa xưa Yên Bái đã là một bộ phận của Tổ quốc. Thời các vua Hùng, Yên Bái thuộc Tân Hưng, thời Lý thuộc Châu Đăng, thời Trần trong lộ Quy Hóa, thời Lê đến thời Nguyễn nằm trong phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa. Với đặc điểm vị trí địa lý thuận lợi như thế, Yên Bái đã trở thành điểm thu hút đối với các tộc người, các dòng người di cư đi tìm những vùng đất mới để khai hoang và thiết lập lãnh địa của mình.
Tỉnh đã thu hút được cả những tộc người di cư từ phương Bắc xuống, từ phía Đông và phía Tây sang, từ đồng bằng lên. Chính vì vậy mà thành phần dân tộc của Yên Bái khá phong phú, số dân tương đối đông và họ định cư ở đây từ rất sớm. Điều này có vai trò quan trọng đối với sự hình thành lịch sử văn hóa, văn học và truyền thống phong tục của địa phương. Đặc điểm dân số và thành phần dân tộc Mảnh đất Yên Bái là một trong những địa bàn sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hóa phát triển liên tục và khá rực rỡ.
Qua các di vật, di chỉ được phát hiện ở Hang Hùm, huyện Lục Yên; thạp đồng Đào Thịnh ở Trấn Yên, trống đồng Minh Xuân ở Lục Yên đã chứng minh điều đó. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20 http://www.vn Ở vị trí cửa ngõ miền Tây của tổ quốc, Yên Bái còn là điểm dừng chân của các dòng người di cư từ đồng bằng Bắc Bộ lên, từ phương Bắc xuống sinh cư lập nghiệp. Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, tổng dân số toàn tỉnh là 752868 người, mật độ dân số trung bình là 109 người/ 1km2. Cũng theo kết quả điều tra này thì Yên Bái có tới 30 dân tộc sinh sống, trong đó có 7 dân tộc có số dân trên 10000 người, 2 dân tộc có từ 2000 – 5000 người, 3 dân tộc có từ 500 – 2000 người.
Cụ thể là: người Kinh chiếm 49,6%; người Tày chiếm 18,58%; người Dao chiếm 10,31%; người H’Mông chiếm 8,9%; người Thái chiếm 6,7%; người Cao Lan chiếm 1% còn lại là các dân tộc khác. Các dân tộc ở Yên Bái không có lãnh thổ tộc người riêng biệt, họ sống xen kẽ với nhau. Vì họ cư trú ở những độ cao khác nhau nên phân thành các vùng dân cư là vùng cao, vùng thấp và rẻo giữa. Tuy vậy mỗi dân tộc đều có những vùng quần tụ đông đảo của mình.
Tại các vùng này dân số dân tộc đó chiếm tỉ lệ cao hơn so với dân tộc khác cùng cư trú. Tiêu biểu là người H’Mông tập trung đông ở hai huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải; người Thái, người Mường ở huyện Văn Chấn, Nghĩa Lộ; người Dao ở Văn Yên, Văn Chấn, người Cao Lan ở Yên Bình; người Kinh ở trung tâm thành phố và các huyện thị, người Tày, Nùng ở Lục Yên, người Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn huyện Văn Chấn, người Xá Phó ở Châu Quế Thượng huyện Văn Yên. Mỗi dân tộc trong tỉnh có truyền thống và bản sắc riêng nhưng quá trình sinh sống xen cư trên cùng một vùng lãnh thổ đã có sự giao lưu văn hóa tạo nên những dấu ấn văn hóa giao thoa giữa các dân tộc từ đó hình thành nên một nền văn hóa rất đa dạng và phong phú có nhiều nét độc đáo. Đặc điểm lịch sử văn hóa một số tộc ngƣời ở Yên Bái Quá trình sống xen cư và quần tụ, 30 dân tộc ở Yên Bái đã có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa khiến cho các nét văn hóa và phong tục của mỗi dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21 http://www.vn tộc vừa có những nét độc đáo riêng lại vừa có những điểm chung.
Các dân tộc vừa có ý thức giữ gìn phong tục truyền thống của dân tộc mình nhưng cũng vừa hòa nhập văn hóa với các dân tộc bạn để xây dựng tình cảm đoàn kết cộng đồng với các dân tộc anh em cùng cư trú trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Tạo nên bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Yên Bái là sự đóng góp của tất cả các dân tộc anh em, song đáng chú ý hơn cả là văn hóa phong tục của các dân tộc đã định cư sớm; có dân số đông; có văn hóa truyền thống đặc sắc như: Kinh, Thái, Tày, Nùng, Khơ Mú, Mông, Dao… 1. Dân tộc Kinh Người Kinh (người Việt) thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (dòng ngôn ngữ Nam Á). Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được những di tích khảo cổ của người Việt Cổ từng cư trú tại đây.