Chương 1 TONG QUAN 1. Cau tạo chân móng bò Mong là một cấu trúc rất quan trọng trong cơ thé gia súc, các van đề về móng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vận động, giảm năng suất và hiệu quả kinh tế. Một con bò bị đau chân thì khả năng đi đứng bị ảnh hưởng, việc di chuyên đến lấy thức ăn bị ảnh hưởng, bò bị sụt cân (Kate và ctv, 2004). Mặc dù bệnh chân móng là không thé tránh khỏi, nhưng qui trình quản lý và chăm sóc chân móng đúng cách có thể làm giảm đáng kể tỉ lệ các bệnh chân móng trên gia súc, đặc biệt là trâu bò nuôi nhốt (Almeida và ctv, 2008).
Chăm sóc chân móng tốt sẽ giảm chỉ phí điều trị, giảm thiệt hại kinh tế do giảm năng suất và hiệu suất chăn nuôi. Mặc dù cau trúc móng khác nhau giữa các loài, nhưng về cơ thé học cơ bản của móng thì giống nhau trên các loài. Dé hiểu về cách chăm sóc móng đúng cách, điều quan trọng là phải nắm được cấu trúc cơ bản và giải phẫu học của móng. Xét về cơ thể học chân móng, bò thuộc nhóm móng guốc điển hình.
Đặc điểm cau tạo móng bò được trình bày qua Hình 1. Phần móng non Đệm vành vóng Phần móng hóa sừng Lamellae Xương ngón Dé móng Gót ngón Hình 1. Cau tạo móng bò (mặt cắt doc) (Toussaint, 1989) Bàn chân bò gồm hai xương bàn chính là xương bàn số 3 và 4 (xương bàn phụ số 2, 5), khác với ngựa chỉ có một xương bản. Xương ngón là cau trúc hỗ trợ cho bàn chân.
Mỗi ngón có 3 đốt ngón: đốt đầu, đốt giữa, đốt cuối (Hình 1. Các xương khác nhỏ định vị trong mỗi ngón gọi các xương mè, có chức năng chỉ dẫn cho các sợi gân (Dyce và ctv, 2010). Đốt ngón cuối nằm trong hộp móng cứng và cũng là xương nhạy cảm nhất đối với ton thương, nhất là các bệnh do vi khuẩn xâm nhập qua những vết rạn nứt của móng chân (Kate và ctv, 2004). Phần móng bên sẽ lớn hơn ở chân sau, trong khi phần móng giữa lớn hơn ở bàn chân trước.
Khoảng cách giữa 2 móng gọi là kẽ móng, ở đây sẽ có vùng da gọi là vùng da kẽ móng. Các vùng bề mặt khác nhau của móng được đặt tên theo vi trí liên quan đến kẽ móng (Dyce va ctv, 2010). Cau tao của móng được mô tả từ ngoài vào trong, bắt đầu là lớp sừng cứng bao phủ móng, còn gọi là thành móng. Lớp thành móng hóa sừng này có bề mặt rất cứng, có chức năng như biểu bì của da.
Các tế bào cấu tạo nên lớp thành mong này được tao ra bởi mô ngay trên thành móng, gọi là corrum. Corium là một loại mô giàu dinh dưỡng, chứa mạch máu và thần kinh bên trong móng. Corium liên tục sản sinh ra các tế bào mới và được đây ra thành móng. Lớp tế bào mới này chết đi và tạo thành lớp thành móng hóa sừng mới ở ngoài và cứng của móng.
Lớp sừng ngoài cùng bị keratine hóa, phần móng non mới được tạo ra từ corium ngay vị trí móng tiếp xúc với da (có lông) của chân. Móng non mới mọc mềm, sáng bóng và giữ được độ âm cho móng (Kate và ctv, 2004). Và đây cũng là cách tạo ra các vòng ngắn trên sừng trâu bò do ảnh hưởng bởi các yếu tố dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe và điều kiện sống. Móng bò thường dài 0,51-0,64 cm trong 1 tháng.
Mặt đưới móng mềm hon phan thành móng hóa sừng một chút, gọi là dé móng, được tạo ra từ lớp mô corium của đề móng, lớp tế bào này mềm hơn phần sừng của móng. Vị trí giữa lớp thành móng hóa sừng và dé gọi là đường trắng. Đường trang là phần tiếp giáp linh hoạt giữa sừng móng và đế móng, cho phép móng linh hoạt hơn khi con thú di chuyên (Blowey R. Bên trong móng là các xương ngón, không những đóng vai trò quan trọng trong định hình móng, mà còn là cấu trúc hỗ trợ cho chân.
Đề móng dày 5-7mm bảo vệ móng. Lớp đệm ngón là một lớp đệm bởi mô mỡ, có nhiệm vụ bảo vệ lớp mô corium phía trên, hỗ trợ lưu thông máu ở chân, đồng thời là bộ phận giảm shock cho các xương ngón (Dyce va ctv, 2010). Mặt cắt dọc xương bàn, ngón và móng chỉ trước trên bò Trong đó: 1. xương bàn tay; 2,5.
các dây gân của cơ duỗi ngón tay; 3,14. các dây chang khớp ngón; 9,10,11,18. các đây gân cơ co ngón tay; 4. phần hóa sừng của móng; 13,15,19.
các xương hạt mè của bản tay; 20. xoang mỡ đệm móng. (Phan Quang Bá, 2020) - Xương dng quyền | ¬ } _——— Xương gót ý Xương mắt cả ——— Xương sén 2| — —— Phần dưới xương gót ——— Xương thuyềnvuông — Xương ném lớn ba ) > = Dat ngóo số 1 7 ⁄ Q ae -— Đột ngón số 2 J z2){ ~——— số 3 Dit ngón ——~— Of “ ay MAT TRƯỚC , MAT SAU Ke x_ Y MẠTTRƯỚC CA" MATNGOAI Chi sau Chi trước Hình 1. Các xương bàn và xương ngón trên bò (Phan Quang Bá, 2020) Ngoài ra, thành phần hóa học của móng cũng được nghiên cứu bởi Assis và ctv (2017), bằng phương pháp phân tích hóa sinh móng chân gia súc (trâu) có tỉ lệ trung bình các thành phần sau: vật chất khô (DM 85,6), chất khoáng (MM 0,73%DM), chất hữu co (OM 99,23%DM), protein thô (CP 91,67%DM) và chiết xuất ete (EE 0,87%DM), lưu huỳnh (S 83,53%), canxi (Ca 8,13%), kali (K 3,47%), phốt pho (P 3,74%), kẽm (Zn 0,81%) và đồng (Cu 0,31%).
Trong đó, nồng độ cao nhất DM, CP và các khoáng chất K, Zn, Cu tập trung ở phần móng chịu trọng lượng cơ thể lớn nhất — dé móng. Đối với nguyên tố S, nghiên cứu này đã chứng minh rằng nồng độ cao nhất của lưu huỳnh nằm ở vành bên và vành sau của móng. Mặt khác, nồng độ MM cao, đặc biệt là phốt pho được tìm thấy trong móng ngựa qua phân tích, điều này chứng minh P có ảnh hưởng đến chất lượng và độ cứng của móng (Grosenbaugh và ctv, 1992). Ngoài ra trên trâu bò, chất lượng và độ cứng của móng bị ảnh hưởng bởi quá trình trao đổi chất, nội tiết, di truyền, các yếu tố môi trường và dinh dưỡng (Bajanowski va ctv, 2001; Muelling, 2009; Scholey va ctv, 2012).
Bệnh chân móng trên bò Bệnh chân móng trên bò biểu hiện không nghiêm trọng như các bệnh truyền nhiễm, nhưng ảnh hưởng đến sức khỏe của gia súc và gây giảm trọng. Đặc biệt trên bò sữa làm giảm sản xuất sữa, giảm chất lượng sữa, giảm tuôi thọ đàn, tăng viêm vú và tế bào bản thé, sinh sản kém. Ngoài ra, bệnh còn làm giảm sức đề kháng tạo điều kiện cho các bệnh truyền nhiễm khác làm thiệt hại kinh tế nặng nề. Tăng chi phí chăm sóc, chữa trị, loại thải nhanh.
Thống kê của một số bang ở Mỹ cho thấy bệnh viêm chân móng gây thiệt hại kinh tế đến 20% cho đàn bò sữa so với bệnh viêm vú chỉ gây thiệt hại 16,5% (Lê Đăng Đảnh, 2012). Mặt khác, bò bị đau chân móng có nguy cơ bị loại thải cao gấp 8,4 lần so với bò không bị đau chân (Sprecher va ctv, 1997), và tốn khá nhiều chi phí dé điều trị (Enting va ctv, 1997). Khảo sát tỉ lệ bệnh chân móng trên bò sữa bằng phương pháp đánh giá dựa vào triệu chứng lâm sàng (viêm móng, sưng, dau,.) khảo sát tại Tp. Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương là 10,6% (Phan Việt Thành, 2010).
Trong khi, Nguyễn Kiên Cường và Nguyễn Văn Tiến (2013) khảo sát trên bò sữa ở các hộ chăn nuôi thuộc huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh bằng phương pháp cho điểm dáng đi của Sprecher và ctv (1997) có tỉ lệ bệnh khá cao 41,4%. Với cùng phương pháp đánh giá cho điểm này, Thomsen (2009) khảo sát bệnh chân móng trên bò sữa tại Đan mạch là 24,3%, nghiên cứu tại Canada 28,5% - 30% (Kelton và ctv, 1998). Các nghiên cứu về bệnh chân móng trên bò sữa cho thấy bệnh xảy ra thường xuyên và trên hầu hết các đàn bò, theo Whay và ctv (2003) cho thấy tỉ lệ bò bị đau móng trong tổng đàn lên tới 50% tại một số trại.
Các bệnh chân móng bao gồm bệnh viêm móng và đau khớp. Trong đó, bệnh viêm móng gồm viêm đường trắng, viêm kẽ móng, viêm vành móng, viêm gót và loét dé móng (Vermunt and Greenough, 1995). Nguyên nhân chính của bệnh viêm móng được cho là thú bị nhiễm toan huyết do chế độ ăn nhiều carbohydrate (Vermunt và Greenough, 1994; Greenough, 2007; Enemark, 2008). Theo Enemark (2008) chi ra mối quan hệ giữa lượng tinh bột trong khâu phan ăn với sự xuất hiện bệnh viêm móng.
Do đó, bệnh viêm móng được xem như một bệnh sản xuât vì gia súc không có khả năng tự ứng phó với nhu cầu trao đổi chat trong giai đoạn khâu phan cho năng suất cao (Mulligan va Doherty, 2008). Ngoài yếu tố dinh dưỡng, điều kiện môi trường đóng vai trò cơ bản trong việc khởi phát bệnh viêm móng (Muelling, 2009). Đồng thời, móng chân bò luôn chịu áp lực rất lớn bởi trọng lượng cơ thể khi đi đứng nên có thê gây vỡ mạch máu nhỏ trong móng chân, vành móng, tạo điều kiện cho vi khuẩn gây viêm móng hoặc đi lên phía trên gây viêm khớp. Các dạng viêm móng được trình bày qua Hình 1.
Các dạng viêm móng trên bò 1. Nguyên nhân gây bệnh viêm móng trên bò 1. Nguyên nhân do cấu tạo cơ thể học của móng Móng chân dài thì nguy cơ bị viêm móng, đau chân cảng cao (Kate và ctv, 2004). Nguyên nhân có thé do hộ chăn nuôi không gọt móng, bò bị nuôi nhốt trong diện tích chuồng hẹp, cột một chỗ trong thời gian dài, ít đi lại, vì thế móng ra dài (Hình 1.5) và không bị mài mòn trong quá trình đi, làm cho bò dễ bị đau móng.
Theo khuyến cáo tỉ lệ bò có móng chân dài nhỏ hơn 10% đàn (Nguyễn Xuân Trạch, 2004). Móng bò phát triển quá mức (Kate và ctv, 2004) é đà GQODGỚHD Điểm 1 đà HỆ 2 Nỹ Điểm 3 Hình 1. Thang điểm đánh giá góc bet bàn chân sau so với sông lưng Trong đó, điểm 1: góc được tạo bởi bàn chân sau so với sống lưng <170, điểm 2: góc được tạo bởi bàn chân sau so với sống lưng 170-240, điểm 3: góc được tạo bởi bản chân sau so với sống lưng >240. (Nguyễn Kiên Cường và Nguyễn Văn Tiến, 2013) Độ đài của móng được thể hiện qua độ bẹt của góc bàn chân sau so với đường thang sống lưng.
Móng càng dai thì góc càng lớn. Điểm góc bet được cho từ 1-3 điểm. Nếu bò có điểm bằng 3 xem như móng dài (Thang điểm đánh giá minh họa qua Hình 2.