lời mở đầu công trình về từ điển học của mình [30, tr.5], một trong những đặc điểm lạ lùng nhất của từ điển học là các nhà từ điển rat ít trao đôi kinh nghiệm với nhau. Sự phân lập này có thé dẫn đến hiện tượng mâu thuẫn về nội dung của cùng một van dé trong các từ điển khác nhau. Như vậy, tính tương đối của tự điển có thé phát sinh khi xem xét vê cùng một vân đê ở hai từ điên khác nhau. Từ điển mang đậm phong cách của nhóm tác giả biên soạn ra nó.
Tính tương đối của từ điển còn có nguyên nhân từ sự khác biệt của mỗi nền văn hóa - văn minh, ngôn ngữ, dân tộc, quốc gia trên thé giới. Mỗi thành tố trên có thể lý giải về cùng một hiện tượng xã hội theo nhiều quan điểm, tư tưởng hay chính kiến khác nhau. Do đó, có thể cùng một khái niệm, nhưng tùy theo mỗi nền văn hóa khác nhau, có thể có cách sử dụng (vận dụng) khác nhau. Như vậy, tính tương đối của từ điển có thể xuất phát từ sự chậm trễ khi cập nhật, sự phân lập của các nhà từ điển học hoặc sự khác biệt của các nền văn hóa trên Trái Dat.
- Tinh đa dang Thông tin trong từ điển ghi nhận tất cả sự nhìn nhận, đánh giá, sử dung hay vận dụng một khái niệm (phạm trù) theo nhiều hướng khác nhau. Sự đa dang này có nguồn gốc từ sự khác biệt giữa các nền văn hóa, văn minh và tiến bộ của các cộng đồng, dân tộc hoặc các quốc gia trên thế ĐIỚI. - — Tính trung lập Tính đa dạng của từ điển bắt buộc nó phải thé hiện quan điểm trung lập trong tất cả các vấn đề mà nó đã đề cập. Bản thân sự đa dạng luôn hàm chứa nhiều mâu thuẫn hay đối lập nhau.
Do đó, tính trung lập của từ điển còn nhằm tránh các xung đột có thể xảy ra giữa các nền văn hóa, văn minh trên Trái đất. Trừ từ dién của các nước có mô hình một đảng chính trị lãnh đạo, hầu hết các từ điển khác đều tôn trọng nguyên tắc trung lập này. - =— Tính lịch sử Trong từ điển luôn chứa đựng day đủ sự hình thành và phát triển của một khái niệm hay phạm trù mà nó lưu giữ. Ở đó, người xem tiếp cận được cả cách sử dụng (vận dụng) từ ngữ từ lúc sơ khai cho đến hiện tại.
Thông thường, chúng ta gọi chung các loại bách khoa thư và từ điển bách khoa là “từ điển bách khoa”. Song, ở nước ngoài, từ lâu, các nhà khoa học đã phân biệt bách khoa thư và từ điển bách khoa. Bách khoa thư tiếng Anh gọi là Encyclopaedia, tiếng Pháp gọi là Encyclopédie có nguồn gốc Hi Lap: en “trong” kyklios hoặc kuklios “vòng, chu trình”, paideia “giáo dục” nghĩa đen có nghĩa là “giáo dục trong một chu trình” (tức là giảng dạy tất cả các tri thức). Người ta thường cho rằng, những kiến thức bách khoa đã được trình bày đầu tiên trong các tác phẩm đa dang của Aritxtốt (Hi Lạp) và của Varô (một nhà khoa học ở Rôma) nói về những tri thức cua bay môn học đương thời: ngữ pháp, phép biện chứng (tức lôg¡ch), tu từ học, âm nhạc, số học, hình học, thực vật học và một số kiến thức về y học, kiến trúc.
Song chi từ khi Điđorô, Đalămbe (Pháp, thé kỉ 18) cùng cộng tác viên xuất bản Bách khoa toàn thư hay Từ điển duy lí các khoa học, nghệ thuật và nghề nghiệp (1751-1772), mới thật sự có bách khoa thư theo nghĩa ngày nay. Sự ra đời của Từ điển Bách khoa Sự phát triển của ngôn ngữ học thế kỉ 19 đã tạo cơ sở lí luận cho việc hoàn thiện và hiện đại hóa từ điển ngôn ngữ. Những cuộc cách mạng công nghiệp thế kỉ 18 và đầu thế kỉ 19 cũng có những tác động quan trọng đề sự phát triển của từ điển ngôn ngữ. Cuộc cách mang công nghiệp sau khi hoàn thành, đã sản sinh ra một lượng lớn các từ ngữ, các thuật ngữ, khái niệm khoa học và kĩ thuật mới.
Trước tình hình đó, trong giới ngôn ngữ học đương thời có hai khuynh hướng đối lập nhau. Khuynh hướng thứ nhất đại diện là nhóm “Từ điển tiếng Anh Oxford” chủ trương duy trì thuần ngữ. Khuynh hướng thứ hai, đại diện là nhóm “Từ điển tiếng Anh của Mĩ” đi đầu là Noah Webster (1758-1843), nhà ngôn ngữ học Mi, chủ trương đưa các từ có tính bách khoa vào từ điển ngôn ngữ và khi định nghĩa từ có phát triển các nội dung bách khoa. Với sự ra đời của các từ điển tiếng Anh của trường phái Hoa Kì, các từ điển ngôn ngữ xích gần đến bách khoa toàn thư và cuối cùng mang tên từ điển bách khoa.
Larousse biên soạn và xuất bản “Dai từ điển bách khoa” và năm 1899 ở Hoa Kì xuất bản trọn bộ “Từ điển bách khoa thế kỉ” thì điện mạo từ điển bách khoa mới thực sự chính thức xuất hiện. Tóm lại, có thể kết luận: từ điển bách khoa xuất hiện do quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa bách khoa toàn thư và từ điển ngôn ngữ, là sự xích lại gần nhau giữa bách khoa toàn thư và từ điển ngôn ngữ. Từ điển bách khoa được thiết kế, xây dựng dựa trên cơ sở của bộ phận giao thoa giữa bách khoa toàn thư và từ điển ngôn ngữ, nhưng không phải chỉ hạn chế dừng lại ở bộ phận giao thoa này. Về phương diện nội dung, từ điển bách khoa còn vươn sang khu vực bách khoa toàn thư, chủ yếu ở chỗ thê hiện nội dung các từ có tính khái niệm (từ có tính bách khoa), không chỉ định nghĩa mà còn có phần diễn giải tính bách khoa của từ.
Đồng thời còn vươn sang khu vực từ điển ngôn ngữ, thu thập cả những từ mang tính ngôn ngữ. Về hình thức, có xu hướng thiên về phương pháp biên soạn từ điển ngôn ngữ, ví dụ dùng từ dé lập đầu mục từ. Khác han với bách khoa toàn thư, từ dién bách khoa không yêu cau cao về tính hoàn chỉnh, tính hệ thống. Trong bài viết, mục từ không thiết kế tầng bậc, tiêu đề, không ghi thư mục tham khảo, vì số lượng mục từ nhiều, dung lượng nhỏ nên cũng không có nhu cầu biên soạn sách dẫn nội dung, và không có phần hướng dẫn học tập, bảng cấu trúc phân loại mục từ.Phân biệt Từ điển Bách khoa với Từ điển ngôn ngữ và Bách khoa thự Về nguyên tắc, người ta có thé phân biệt từ điển bách khoa với từ điển ngôn ngữ và bách khoa thư một cách khá dễ dàng nhưng trong thực tế, việc xây dựng cấu trúc bảng từ và biên soạn nội dung các từ của 3 loại từ điển này lại không hề đơn giản.
Sự khác biệt giữa Từ điển Bách khoa với Từ điển Ngôn ngữ và Bách khoa thư chính là sự khác biệt về cấu trúc. Để có thể phân biệt tốt ba loại sách này, trước hết chúng ta phải tìm hiểu về cấu trúc của từ điển nói chung. Vấn đề cấu trúc của từ điển 1. Cầu trúc vi mô Từ điển là một loại sách tra cứu, ở đó thu thập và cung cấp những thông tin về kí hiệu ngôn ngữ.
Các thông tin trong từ điển có tính chất khách quan, thường được coi như là một chân lí. Từ điển không phải là một công trình sáng tác nhăm trình bày những kiến giải cá nhân mà là một công trình biên soạn, dựa vào tư liệu ngôn ngữ mà tông hợp, đúc rút và soạn thảo ra. Do đặc diém của mình, moi quyên từ điên là một văn bản có câu trúc đôi: câu trúc vĩ mô (macrostructure) và câu trúc vi mô (microstructure). Hai thuật ngữ này được dùng trong từ điên học lân đâu tiên ở công trình của J.
Cau truc vĩ mô là cầu trúc bao gôm toàn thê các mục từ được sắp xêp trong từ điên theo một trật tự xác định; còn có thê gọi là câu trúc tông thê hay câu trúc bảng từ. Câu trúc vi mô là câu trúc toàn bộ những thông tin được trình bày một cách hệ thông trong môi mục từ, có thê gọi là câu trúc mục từ. Có thê nói, việc nghiên cứu, khảo sát một cuôn từ điên theo câu trúc cua nó (vĩ mô va vi mô) là cách nhìn mới áp dụng quan điêm hệ thông — câu trúc vào việc nghiên cứu từ điển. Trước đây, do nhiều lí do mà việc tổ chức trong một cuốn từ điển thường bị phi cấu trúc hóa.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong “Một số vấn đề từ điển học” [24: tr.27] thì trước hết, đó là sự cắt đoạn, biệt lập tương đối của mỗi mục từ đối với những mục từ khác. Nhiều khi, những yếu tố nằm trong lời giải thích của mục từ nào đó lại không có mặt trong bảng từ; tức là thành phân của câu trúc vi mô lại không năm trong câu trúc vi mô. Thứ hai, do số lượng rất lớn của các mục từ được sắp xếp theo một trật tự hình thức nào đó (thường là theo van a, b, c) kéo dai doc suốt cuốn từ điển cho nên những mô tả về hình thức, cấu tạo của các đơn vị, tính chất và mức độ khác nhau về phạm vi, sắc thái cua các đơn vi. dé dàng thiếu nhất quán, rời rac và tùy tiện.
Thứ nữa, từ vựng của ngôn ngữ là một tập hợp mở, có số lượng đơn vị rất lớn và thường xuyên biến động, liên tục được bồ sung những từ ngữ mới, đồng thời những từ ngữ cũ lại bị lãng quên. Quan niệm cấu trúc hóa bảng từ của từ điển xuất phát từ đặc điểm trên. Cấu trúc bang từ cơ bản phản ánh cấu trúc từ vựng của ngôn ngữ. Đó là một tập hợp chứa trong mình nhiều mối quan hệ của nhiều hệ thống nhỏ, chúng có thể đan xen và chồng chéo nhau.
Từng hệ thống nhỏ có những mối quan hệ riêng, hoạt động theo những quy luật riêng. Nhìn chung, các mối quan hệ có tính quy luật trong hệ thống từ vựng thê hiện không dứt khoát, rõ ràng, và đôi khi rất khó nhận ra. Cấu trúc bảng từ cần phản ánh được các quan hệ có tính quy luật, trong đó hệ thong từ vung, tránh tinh trạng tùy tiện, thiếu nhất quán hoặc đơn giản, sơ lược hóa. Và theo tác giả L.Zgusta (dẫn theo tác giả Nguyễn Ngọc Trâm) thì khi nghiên cứu cau trúc bang từ, người ta thường quan tâm tới hai mặt: Thứ nhất là hình thức của đơn vị trong bảng từ và thứ hai là số lượng các đơn vị, xét toàn bộ hay từng bộ phận cấu thành.
Cau trúc vi mô a.